Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011

CUỐI NĂM VÀ NỖI BUỒN CỦA NHÀ THƠ THÁI NGỌC SAN ,LÊ NGỌC THUẬN ,VIÊM TỊNH

Thiếu nữ thành nội . Tranh Đinh Cường

Một người bạn thân gửi một bài thơ sưu tầm được của Thái Ngọc San
qua tin nhắn,quá mừng nhưng bài thơ buồn quá.
Một người bạn nối khố ở Mỹ Chánh đúng ngày cuối năm Tây
cũng gửi qua tin nhắn bài thơ tứ tuyệt buồn não ruột.
Đọc trên blog của ngươì bạn thiết ở Huế
một bài thơ cuối năm lại là... nỗi buồn cô quạnh.
Chỉ có các ngươi buồn thôi sao ! Buồn ơi,chào mi!
Nguyễn Miên Thảo

THÁI NGỌC SAN
GỬI MỘT ÁNG MÂY

em buồn như cỏ như cây
anh buồn như gió như mây giữa trời
chúng ta từ thuở làm người
đã nghe sinh tử bời bời sóng xô
(Qui Nhơn ,1969)

LÊ NGỌC THUẬN
MƯA CUỐI NĂM
Tặng NMT

Mưa nơi này lần đân mưa mãi
giống như anh tu pháp Hoàng gia
ta chịu thua chui đầu trong rượu
con sói buồn nhe răng ngủ quên
(Mỹ Chánh ,31.12.2008)

VIÊM TỊNH
SÂN SI ĐỜI
1
Ngôi nhà ta sống như mộ địa
nhện giăng sợi ngắn quấn sợi dài
có em bên đời như không có
mùa xuân về sao nắng hắt hiu
2
Ta sống với mưa như tình nhân
âu yếm cùng nhau giọt lệ thầm
nhịp tim đìu hiu lời yêu dấu
tan giữa hư không một nụ cười
3
Ta đã già Em vẫn thanh xuân
trái mù u của tuổi tươi hồng
rụng vài trái chín, xanh mầm mới
ai rót vào ai khúc ngậm ngùi .
(Huế,cuối năm 2008)

Thơ - chúc mừng năm mới

Chúc Mừng Năm Mới ! An khang -thịnh vượng


Nhắn Xuân

Xuân ơi , nếu về qua ngõ
Nghe ta nhắn nhủ thầm.
Con gái một lần xuân thắm
Mộng dài đêm ngắn trôi.

Là ước mơ màu ngũ quả ,
Vuông vức bánh chưng xanh.
Nụ hồng đào mơn mởn cánh ,
Má em môi thắm lành.

Khiến lòng ta say say mãi...
Đòn bánh tét nặng tay ,
Thịt mỡ dưa hành câu đối
Rượu xuân nhấm ngất ngây.

Kẻ chinh phu đợi xuân đến ,
Như đợi tình yêu đầu.
Dẫu tháng năm long đong mãi
Nhạt nhòa theo bóng câu.

Gió xuân đêm nay mơn mởn ,
Vỗ về bước lãng du...
Lòng xuân có bao giờ cũ ?
Mộng đầu - cuối ,cho dù.

---mpn---

 


Thứ Năm, 29 tháng 12, 2011

BUỒN QUÁ LA LÊN CÁI CHƠ - ĐÔNG HÀ



Buồn quá chả biết vứt vào đâu
đôi ngang cây khế sợ hoa sầu
bỏ xuống bông cau màu vụng dại
bỏ bùa bỏ ngãi xuống cô đơn

Thà chi mà biết nhau thì chớ
còn đây dan díu thế rồi thôi
đêm đem thương nhớ trèo lên núi
ngày mở vui cười nói tiếng ai

Thì chưa biết hết làm sao kết
dăm cái vu vơ ngẩn ngờ tình
nên giờ ngồi lại nhặt sao đủ
một nhúm ơ hờ chảy qua tay

Buồn quá la lên mà thương nhớ
mà đỡ ngất ngư cái u sầu...

ĐÔNG HÀ

TIN BUỒN

ĐƯỢC TIN
THÂN PHỤ NHÀ THƠ PHAN LỆ DUNG
VỪA QUA ĐỜI TẠI HUẾ
HƯỞNG THỌ 86 TUỔI

THÀNH THẬT CHIA BUỒN CÙNG CHỊ PHAN LỆ DUNG VÀ TANG QUYẾN
CẦU NGUYỆN HƯƠNG HỒN CỤ THANH THẢN Ở CÕI VÔ THƯỜNG

nguyễn tịnh đông - trần vàng sao - viêm tịnh - huy vĩnh - nguyễn văn trai
nguyễn miên thảo - từ hoài tấn - nguyễn duy hiền -hoàng thị thọ
hà thúc quyết - thái nguyên hạnh - phạm tấn hầu - lê ngọc thuận
văn viết lộc - bùi ngọc long - lê công doanh - hải trung
hồ đăng thanh ngọc - đoàn phạm túy linh - trần thùy mai - lâm mỹ dạ
nguyễn thị đấu - đông nhật - đức phổ - trần phá nhạc - lê hùng vọng
hoàng dũng - nguyễn thanh văn - trần hồng tâm - lê phùng và bằng hữu...

Thứ Tư, 28 tháng 12, 2011

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2011 (KỲ 97 )



NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

971 - Bùi Minh Kiểm
HAI VỢ CHỒNG CÙNG LO CHO LIỆT SĨ
Bộ đội về hưu sinh 1940 tại Hải Phòng. Sống ở Đà Nẵng (2011).
Năm 18 tuổi tình nguyên đi bộ đội đặc công vào Nam chiến đấu ở mặt trận Quảng Đà ròng rã gần 12 năm.
Sau 1975 ở lại luôn Đà Nẵng, lấy vợ cũng là đồng đội trong đơn vị pháo binh.

Dù hoàn cảnh gia đình 2 cựu chiến binh còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn cố gắng theo đuổi việc đi tìm hài cốt đồng đội còn mất tích trong đó có nhiều bạn cũ quê Hải Phòng, có người tự tay mình chôn.

Từ năm 1992 lặn lội về các chiến trường cũ tìm được di hài của khoảng 50 đồng đội đưa về nghĩa trang liệt sĩ hoặc thông báo cho gia đình vào nhận đem về quê.

Trong trường hợp thân nhân không có điều kiện vào thì bà vợ nhận nhiệm vụ đưa hài cốt về cho thân nhân ngoài Bắc.

Tuy mắc bệnh cao huyết áp và chảy máu dạ dày nhưng vẫn tiếp tục hành trình tìm mộ liệt sĩ: “Bom đạn không giết nổi thì ba cái bệnh này với mưa rừng gió núi bây giờ có sợ gì…”

972 - Đặng Sỹ Ngọc
CHẠY XE ÔM LẤY TIỀN IN NHẬT KÝ CHIẾN TRƯỜNG
Lao động nghèo sinh 1948 tại Hà Tĩnh. Sống ở Nghệ An (2011).

Dù là con trai duy nhất được miễn nghĩa vụ quân sự nhưng năm 1966 lúc 18 tuổi vẫn làm đơn tình nguyện đi bộ đội vào chiến trường Quảng Trị năm 1967.

Trên chiến trường này chỉ trong vòng 6 tháng đã 3 lần bị thương nặng, lần cuối vết thương bị nhiễm trùng nên phải đưa về hậu phương miền Bắc chữa trị. Điều trị hơn một năm đến 1969 xin quay lại chiến đấu, được chuyển qua đơn vị pháo cao xạ.

Ở chiến tuyến mới lại trúng bom Mỹ bị thương thêm 4 lần nữa, lần sau cùng năm 1972 lủng bụng lủng ruột nên một lần nữa phải chuyển về Hà Nội qua 8 lần giải phẫu chữa thương. Được xác định thương tật 81% (tai điếc vì sức ép của bom) nên được cho về trại điều dưỡng thương binh Quân khu 4 ở Nghệ An chờ xuất ngũ.

Vốn từ nhỏ đã có năng khiếu và say mê văn chương nên trong suốt thời gian đi chiến đấu hễ có thời gian rảnh là tranh thủ cắm cúi ngồi ghi chép lại “nhật ký chiến trường” của riêng mình, hết tập vở này qua tập vở khác. Tất cả may mắn vẫn còn lưu giữ được qua bao khói lửa đạn bom.

Thế rồi khi nằm trại an dưỡng số mệnh đưa đẩy cho gặp lại cô bạn học ngày xưa nay là y tá, tình cảm được vun đắp lại tiến tới hôn nhân năm 1975. Sau đó giải ngũ cùng vợ ở lại luôn Nghệ An sinh sống cho tiện vợ làm việc.

Cuộc sống sau chiến tranh vô vàn khó khăn nhất là khi phải nuôi 3 con nên bản thân chấp nhận chạy xe ôm để kiếm tiền thêm xoay xở cho gia đình. Ngoài ra rảnh rỗi xem lại, bổ sung “nhật ký chiến trường” ngày xưa nay đã lên tới con số 19 tập với hy vọng sẽ có ngày được in.

Năm 2006 một nhà xuất bản đã biên tập lại 3 cuốn trong số đó in thành cuốn “Trời xanh không biên giới”. Còn lại 16 tập còn để đó chờ dành dụm tiền chạy xe ôm in tiếp.

Cũng chính nhờ những ghi chép trong bộ nhật ký chiến tranh đó đã giúp tìm được 6 ngôi mộ đồng đội cũ mất dấu vết từ lâu. Khi đó tạm nghỉ chạy xe ôm lên đường cùng thân nhân liệt sĩ đi tìm mộ.

973 - Đỗ Nam Cao
HAI DÒNG THƠ
Nhà thơ tên thật Đỗ Sơn Cao sinh 1948 tại Hà Tây – Mất 2011 ở TPHCM (64 tuổi).

Tốt nghiệp khoa ngữ văn ĐH Tổng hợp Hà Nội, năm 1971 tình nguyện mang ba lô vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Nhận nhiệm vụ ở Ban VHVN Trung ương Cục miền Nam, thường hoạt động ở vùng Sài Gòn và miền đông Nam bộ.

Bắt đầu làm thơ chủ yếu ca ngợi quê hương, làng quê yêu dấu với phong vị đồng quê trong sáng hồn hậu (thơ “Ngọn gió làng”).

Năm 1973 gặp mối tình đẹp lý tưởng, kết hôn với một nữ tù cộng sản tuổi đôi mươi được trao trả bên bờ sông Thạch Hãn (Quảng Trị).

Sau ngày hòa bình, tiếp tục ở lại TPHCM làm đài phát thanh rồi Nxb Văn hóa – Thông tin. Có mối quan hệ giao hảo chân tình giúp đỡ giới văn nghệ sĩ trẻ đô thị miền Nam kể cả thuộc chế độ cũ.

Nhưng nhiều năm sau bỗng nhiên rút vào sống tách biệt, xa cách bạn bè, chuyển qua làm kinh doanh nhà hàng. Vẫn còn làm thơ nhưng ít công bố và đặc biệt bây giờ chuyển hướng qua dòng thơ nội tâm mang màu sắc tâm sự u uất nặng nề khác hẳn trước đây. Như bài “Thơ tôi” (1987):

“… Thơ tôi đè nặng ngọn bút
Nặng đè ngực nhứt buốt tim
Vụt chói lòa mất hút
Ngẩn ngơ em sợ hãi tìm…
Thơ tôi khổ qua mướp đắng
Xù xì gai góc sầu riêng một nỗi
Thơ tôi đọc nổi da gà
Mượt mà mướt mà cỏ gấu
Đắng cay giấu dưới tầng sâu…”

Thơ đổi khác có lẽ từ cảnh đời riêng gặp cú sốc tinh thần khi người vợ cựu nữ tù sau này làm cán bộ khá lớn liên quan một vụ án tham nhũng ở Sở Lương thực TPHCM nổi cộm thời đó khiến phải ra tòa lãnh án tù - tù 2 chế độ!

Tuy sau này người vợ được chiếu cố giảm án đã ra tù nhưng dường như vẫn khiến cho nhà thơ thành “con người luôn cười to để quên những nỗi đau thầm lặng”.

Qua đời lặng lẽ do mắc bệnh nan y.

974 - Lê Thị Hằng
BỆNH XƠ CỨNG BÌ
Học sinh sinh khoảng 1995 tại Quảng Bình. Sống ở Quảng Bình (2011).

Cha là bộ đội trên chiến trường miền Nam.
Sau 1975 cha xuất ngũ về quê làm ruộng. Bản thân bị nhiễm CĐDC mà không biết nên vẫn lấy vợ sinh được 4 con thì 2 chết yểu, một bị bệnh tâm thần từ nhỏ.

Đến con gái út ngay từ nhỏ mắc chứng bệnh kỳ lạ hiếm có là bệnh xơ cứng bì cũng do hậu quả CĐDC. Đây là loại bệnh làm da người bệnh dần xơ cứng như vảy nến, càng ngày da càng căng ra rồi chảy máu bong tróc ra.

Vì thế khắp cả mặt em da xù xì sần sùi, da mí mắt cũng xơ cứng lại khiến không khép mắt lại được, không ngủ được mà khóc cũng không được! Làn da đầu căng lên không mọc tóc nổi làm đầu nhẵn thín to bất thường. Đi đâu em cũng phải trùm mũ áo dày cộm, đeo mắt kinh đen to để che mặt.

Không đi học được song ở nhà mê nhạc được cha dạy đàn khuây khỏa đôi chút nhưng rồi làn da tay căng lên làm cả cánh tay, bàn tay cứng đơ không còn đàn được nữa.

Cả 2 cha con phải ra tận Hà Nội cầu cứu bệnh viện chữa trị chưa biết kết quả thế nào.

975 - Nguyễn Thị Huỳnh
“CHỊ TƯ HẬU”
Cán bộ về hưu sinh 1920 tại Khánh Hòa – Mất 2003 ở Nha Trang (83 tuổi).

Học trường Tây ở Nha Trang nhưng đã sớm theo cách mạng đánh Pháp. Lấy chồng có 3 con, chồng là cán bộ lãnh đạo cộng sản khu vực miền Trung này.

Sau 1954 đưa các con tập kết ra miền Bắc, chồng vẫn ở lại bám trụ gây dựng cơ sở chuẩn bị đánh Mỹ.

Tại Hà Nội tái phát bệnh từ thời bị Pháp bắt cầm tù tra tấn nên phải vào bệnh viện giải phẫu 4 tiếng đồng hồ gặp lúc thiếu thốn thuốc men nên mổ mà không có thuốc gây mê khiến mổ xong xỉu luôn.

Trường hợp này được nhà văn trẻ Nam bộ tập kết Bùi Đức Ai (tức Anh Đức sau này) lấy nguyên mẫu làm nhân vật chính “chị Tư Hậu” để viết nên cuốn tiểu thuyết “Một chuyện chép ở bệnh viện”. Tác phẩm lập tức đoạt giải văn chương miền Bắc rồi sau đó được chuyển thành phim truyện nhựa “Chị Tư Hậu” (đạo diễn Phạm Kỳ Nam, Trà Giang đóng vai chính) cũng được trao giải lớn Liên hoan phim VN lần thứ hai năm 1973. Cả truyện lẫn phim đều được xem như tác phẩm nổi tiếng điển hình cổ vũ miền Nam đánh Mỹ.

Sau 1975 cùng các con trở về Nha Trang gặp chồng bấy giờ làm lãnh đạo cao cấp tỉnh. Vừa giúp việc cho chồng vừa lo nuôi con ăn học thành tài.

Năm 1990 vừa nghỉ hưu, chồng lâm bạo bệnh nằm liệt một chỗ. Thế là hơn 10 năm chỉ một tay mình lo chăm sóc chồng để con cái yên tâm công tác.

Tuổi già sức yếu nên năm 2003 khi chồng vẫn còn nằm trên giườøng bệnh thì bản thân lại suy sụp bị tai biến qua đời.

Trước đó đã xin trả lại khuôn viên căn nhà được cấp rộng hơn 3.000m2 “đất vàng” ở thành phố biển đang nổi lên là trung tâm du lịch phát triển nhất nước để Nhà nước xây ngân hàng, chỉ giữ lại mảnh đất nhỏ 100m2 làm nhà ở. Nhiều người hỏi sao “dại” vậy thì trả lời “Lúc đi làm cách mạng, đất bị mất nhà bị đốt hết, bây giờ có nhà mà ở đã là tốt lắm rồi. Chỉ tiếc vẫn còn nhiều người nghèo mà má không có gì để giúp họ, giá như má còn sức để làm…”.

976 - Nguyễn Thị Loan
CÔ GIÁO VỚI VIÊN “BI” TRONG ĐẦU
Giáo viên về hưu sinh 1949 tại Hà Tĩnh. Sống ở Hà Tĩnh (2008).


Mồ côi mẹ từ năm 6 tuổi, 18 tuổi vào thanh niên xung phong ở địa phương làm nhiệm vụ mở đường, thông đường bảo vệ đường cho xe bộ đội vào Nam chiến đấu.

Năm 1968 trúng bom bi Mỹ oanh tạc làm liệt một nửa người phải nằm viện cả năm trời. Cố gắng gượng dậy tập đi từng bước dần dần tương đối hồi phục. Nhưng trong đầu còn một viên “bi” bom Mỹ vẫn nằm nguyên mà lúc đó bác sĩ lẫn phương tiện y khoa không đủ để gắp ra.

Ra viện được cho về nhà với thương tật 51%.

Không chấp nhận sống đời thương binh vô dụng mới xin xã cho làm giáo viên mẫu giáo dù chỉ mới học tới lớp 10 mà cũng chưa hề qua trường lớp sư phạm nào.

Trong hoàn cảnh chiến tranh, vận động mở được lớp mẫu giáo làng lợp tranh tre như vậy là cả một nỗ lực lớn. Chấp nhận dạy không lương, thỉnh thoảng chỉ được phụ huynh trả công góp cho vài “hiện vật” ký gạo, rổ khoai sắn… Dù vậy vẫn mày mò tự tìm tài liệu học hỏi thêm để dạy khá tốt, dạy cả học sinh câm điếc cũng có kết quả không ngờ.

Sau 2 năm dạy tự phát như vậy mới được cử đi học trung cấp sư phạm rồi về chuyển lên dạy cấp 1 luôn được trò thương bạn mến. Chỉ có điều không ít lần trái gió trở trời viên “bi” bom Mỹ trong đầu lại “chớp lửa” làm ngất xỉu ngay tại lớp hoặc ôm đầu đau nhức hàng tiếng đồng hồ.

Không chỉ thế sau đó còn phát hiện bị ung thư vú phải mổ 3 lần cắt phía bên vú đó. Vì thế không dám nghĩ tới chuyện lấy chồng sinh con nữa. Thay vào đó xem vô số học trò – 38 năm dạy cả hàng ngàn học trò tiểu học, học trò đến 2 thế hệ cả cha lẫn con đều từng ngồi lớp 1 của cô – đều là con của mình.

Năm 2008 về hưu trồng vườn rau sân nhà để giữ niềm vui tuổi già đồng thời kiếm thêm ít tiền còn lo nuôi người mẹ kế đã trên 80 tuổi.

977 - Nguyễn Thị Lợi
MẸ CÕNG CON ĐI HỌC TRƯỜNG KỲ 6KM
Nông dân sinh 1947 tại nghệ An. Sống ở Nghệ An (2007).

Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ được ông bà ngoại đem về nuôi.

Năm 1969 đi thanh niên xung phong phục vụ chiến trường Đường 9 Nam Lào.

Năm 1972 bị thương trong một trận B52 được cho xuất ngũ về quê. Năm 1973 mới lấy chồng cùng quê thì chồng lên đường qua chiến trường Lào.

Sau ngày giải phóng miền Nam chồng vẫn biệt tích. Mãi đến năm 1977 mới sống sót trở về, bấy giờ mới sinh con.

Từ đó 2 chồng bốc vác ở cảng, vợ làm ruộng nuôi con 2 trai 1 gái. Không may đứa con trai thứ hai mới một tuổi bị sốt bại liệt nằm một chỗ.

Tai ương lại tiếp nối với người chồng gian khổ thời chiến tranh cộng thêm công việc bốc vác lao lực ngã bệnh tắt mạch máu não qua đời để lại vợ và 3 con còn bé dại.

Thế là một mình người mẹ đảm làm đủ công việc ruộng nương, dệt chiếu, chạy chợ… để lo cho 3 con. Không chỉ lo cái ăn cái mặc mà còn việc học hành nữa, nhất là với đứa con bị bại liệt lớn lên một chút cũng đòi đi học.

Mẹ thương con phải chiều ý con nhưng đi học nhà xa trường mà chẳng có xe đạp nên hàng ngày đành cõng con trên lưng đến trường cả đi về 6km. Cõng con đến trường rồi tất tả chạy ra đồng chạy ra chợ kiếm việc làm kiếm tiền, chiều đến thì quay về trường cõng con về.

Vậy mà con đến trường trên lưng mẹ học cũng tốt nghiệp THPT loại khá. Rồi thi đậu vào trường Sư phạm Kỹ thuật Vinh làm lớp phó học tập mới là giỏi!

978 - Nguyễn Thị Ngụ
MẸ LIỆT SĨ 102 TUỔI BỖNG DƯNG HẾT MÙ!
Lao động nghèo sinh 1905 tại Hà Tĩnh. Sống ở Hà Tĩnh (2007).

Lấy chồng sinh được 5 con nhưng chỉ nuôi được 3 gồm 2 gái 1 con trai út.
Năm 1947 chồng mất, còn lại một mình buôn bán lẻ ở chợ nuôi 3 con.
Năm 1964 con trai út dù là con trai duy nhất vẫn tình nguyện đi bộ đội vào miền Nam đánh Mỹ.

Năm 1968 cùng lúc 2 tai họa ập tới: Căn nhà nhỏ ở quê bị bom Mỹ san thành bình địa và con trai hy sinh trên chiến trường miền Nam.

Không có vốn liếng để dựng lại nhà (mà có xây lại cũng sợ còn bị bom Mỹ thả nữa) nên đành theo con gái đầu làm chị nuôi ngành giáo dục tỉnh sống cảnh tạm bợ không nhà nơi này nơi nọ.

Năm 1992 lúc đã 88 tuổi bỗng nhiên sau một đêm ngủ dậy 2 mí mắt của cả 2 mắt tự nhiên dính trít vào nhau không mở ra được khiến rơi vào cảnh không nhìn thấy gì nữa không khác gì bị mù bẩm sinh. Có lẽ do bệnh già song nhà nghèo không có tiền đi bệnh viện chạy chữa thuốc men.

Bấy giờ chỉ còn ngồi một chỗ nhờ cháu chắt (9 cháu ngoại, 16 chắt) lo cho miếng cơm manh áo đỡ đần.

Thế rồi bỗng nhiên năm 2006 cũng sau một đêm ngủ dậy mí mắt của 2 con mắt tự động… giãn ra mở ra cho mắt sáng nhìn lại cuộc đời sau 14 năm bị mù bất đắc dĩ. Như một phép lạ đền bù cuối đời cho người mẹ già cả đời lận đận vất vả gánh chịu biết bao tang thương thời chiến (cũng có thể do tuổi già có sự chuyển hóa sinh lý bão hòa nào đó?).

Từ đó đã 102 tuổi vẫn chống gậy đi đứng bình thường, mỗi sáng đi 6 vòng sân tập thể dục, tối ngồi xem ti vi, còn cả chống gậy đi bầu cử Quốc hội nữa!

979 - Nguyễn Thị Nhi
NỮ ANH HÙNG CHỐNG “GIẶC DỐT” THỜI BÌNH
Nông dân sinh tại Cà Mau. Sống ở Cà Mau (2001).

Trong chiến tranh vào năm 1969õ là tổ trưởng tổ du kích nữ lập chiến công vang dội vùng sông nước đánh tan cụm tàu sắt địch, được thưởng Huân chương Chiến công.

Sau ngày giải phóng cùng chồng thương binh cựu huyện đội trưởng vẫn ở lại vùng quê nghèo khó hẻo lánh làm ruộng làm vườn. Sinh 5 con, chồng lại bệnh trầm kha nên cuộc sống quá khổ ngóc đầu không nổi.

Dù vậy vẫn không lúc nào không quên nhắc con phải cố gắng học hành thật tốt mới mong vươn lên được, lấy từ kinh nghiệm bản thân mình: “Trong chiến tranh dốt vẫn còn có thể đánh giặc nhưng hòa bình rồi thì dốt là nghèo đói, bần cùng.”

Vì thế năm 1988 thấy sống trong vùng sâu vùng xa khó cho con học hành gì được nên quyết định ra thị xã Cà Mau muợn một miếng đất nhỏ dựng một… cái chòi cho 3 con ở đó ăn học. Một cái chòi mái tranh vách lá giống hệt thời còn ở chiến khu chống Mỹ với 3 đứa học trò nhỏ chân quê (1 trai 2 gái) rách rưới lê thê lếch thếch không khác gì tích xưa “Trần Minh khố chuối”! Sau đó thêm đứa con trai út cũng từ chân lội sình kênh rạch lên thị xã tham gia nhóm “khố chuối tân thời” này.

Cứ thế mà anh em bảo ban nhau lo học, còn mẹ quay về bưng biền lau lách lo làm vườn làm ruộng vài ba ngày lại chèo xuồng chở cây trái rau ráng ra thị xã bán (đi từ lúc 2 giờ sáng) lấy tiền mua gạo cơm mắm muối cho con tự nấu mà ăn. Kiểm tra việc học của con xong lại tất tả chèo xuồng về, cả đi cả về như thế trên 50km.

“Trường kỳ kháng chiến” lần thứ hai như vậy suốt 13 năm trời cuối cùng cũng đạt thành quả chiến thắng “giặc dốt”. Con trai đầu theo chân cha vào ĐH Quân sự ra sĩ quan, 2 em gái kế vào ĐH Sư phạm ngoại ngữ sắp tốt nghiệp, con trai út cũng là sinh viên ĐH Công nghệ thông tin như ai.

980 - Nguyễn Thị Ni
LỜI HỨA VỚI NGHĨA TRANG HÀNG DƯƠNG
Cán bộ về hưu. Sống ở Côn Đảo (2007).

Hoạt động cộng sản nên năm 1972 bị bắt đưa ra giam ở Côn Đảo.

Năm 1973 được trao trả tù binh theo Hiệp định Hòa đàm Paris.

Sau 30.4.75 được bố trí công tác ở TPHCM nhưng cùng chồng cũng là cựu tù cộng sản tình nguyện chuyển ra nhận công tác ở Côn Đảo vì nhớ lời hứa trước đây với bạn tù Côn Đảo rằng sau này hòa bình rồi ai còn sống phải lo chăm sóc mộ phần những đồng đội đã hy sinh tại đây.

Từ đó mỗi tuần đều đặn đến nghĩa trang liệt sĩ Hàng Dương trên đảo thăm viếng thắp hương cho bao nhiêu ngôi mộ của đồng chí một thời gian khổ đấu tranh vì lý tưởng.

Cả đến khi về hưu vẫn vậy, dù con cái đã vào đất liền học hành, sinh sống nhưng mình vẫn ở lại đảo bán quán hàng nhỏ để có điều kiện tiếp tục gần gũi với hương hồn bạn tù cũ năm xưa.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 27 tháng 12, 2011

GẶP LẠI BÙI GIÁNG QUA " ĐƯỜI ƯƠI CHÂN KINH"



Tối 20.12 vừa qua, những người yêu thích thơ Bùi Giáng một lần nữa lại có cơ hội gặp mặt và trò chuyện về thơ ông trong buổi tọa đàm thơ Bùi Giáng diễn ra tại Trung tâm Văn hóa Pháp (24, Tràng Tiền, Hà Nội).
Buổi tọa đàm được tổ chức nhân sự kiện cuốn thơ văn tinh tuyển mới nhất của cố thi sĩ mang tên “Đười ươi chân kinh” được xuất bản.

Bùi Giáng trong chiếc kính vạn hoa
Đó là cảm nhận của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn, cũng là một thành viên trong đại gia đình thi sĩ Bùi Giáng, về nhân vật được coi là “hiện tượng” của thi ca Việt Nam hiện đại này. Chỉ cần điểm qua một cách ngẫu nhiên nhan đề của một số trong rất nhiều bài viết về Bùi Giáng, ta cũng có thể hình dung phần nào về chiếc kính vạn hoa ấy: “Bùi Giáng, một hồn thơ bị vây khốn”, “Bùi Giáng, một tâm hồn mênh mông ảo diệu”, “Bùi Giáng, giang san một gánh dị thường”, “Cuộc hòa giải vô tận: trường hợp thơ Bùi Giáng”… Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn, tất cả những ai đến với Bùi thi sĩ đều được ông trao tặng cho chiếc kính vạn hoa ấy, để thấy mình như vui hơn, đẹp hơn, sâu hơn, “vô ngần trong bóng nguyệt”.

Và cũng trong chiếc kính vạn hoa ấy, Bùi Giáng hiện lên với những hình ảnh khác nhau, thiên tài hay kẻ điên cũng chỉ cách nhau một lằn ranh mỏng. Thơ văn Bùi Giáng không phải ai cũng tiếp cận được, cũng như con người ông, bạn bè thân quen hiểu thì xem ông như một “lão ngoan đồng” lúc nào cũng hồn nhiên, thơ trẻ. Người lạ không biết thì nghĩ ông điên loạn, “dở hơi”. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo kể lại lần đầu tiên gặp mặt Bùi Giáng ở Sài Gòn: “Đó là ấn tượng khó quên với hình ảnh một ông già tóc bạc ngồi sau chiếc xe thồ, nhưng không ngồi theo kiểu thông thường, mà là ngồi quay lưng lại với anh lái xe, hai tay giơ lên trời như đang đàm đạo với trời xanh. Tôi vẫn băn khoăn về cái dáng ngồi ấy của Bùi Giáng, như là quay lưng lại với tương lai để nói chuyện quá khứ, hay là quay lưng với tất cả những gì xuôi chiều để nói những điều “ngược”: ngược thời gian, ngược với tư duy thông thường…?”
Còn nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn thì kể, hầu như chưa bao giờ thấy Bùi Giáng làm việc, chỉ thấy ông suốt ngày như thế, rong chơi, đùa giỡn với cuộc đời. “Có lần ông vào nhà tôi, thấy mấy chậu hoa lan đẹp liền tròng vào cổ rồi chạy ra đường chơi, ông bảo “Hoa đẹp thế sao lại để một mình chú thưởng, phải mang ra cho thiên hạ cùng ngắm!”; rồi lại có lần ông rượt theo cô dâu ở đám cưới vì thấy cô dâu đẹp quá, kết quả là bị người nhà cô dâu đánh cho “thừa sống thiếu chết”…” – ông Sơn kể lại.

Thế nhưng cũng chính Bùi Giáng ấy, lại có thể ngồi đọc thơ vanh vách cho người khác chép lại, đọc liền một mạch, đọc không ngừng nghỉ. Thơ nói mà hay như thơ viết, có logic, có hệ thống, có triết học hẳn hoi. Cũng chính Bùi Giáng ấy trong một ngày có thể viết tới năm, bảy trăm trang sách. Không chì làm thơ, ông còn dịch thuật, phê bình văn học. Người ta bảo ông đọc nhiều quá nên chữ nghĩa đã ngấm cả vào người, nên lúc cần thì cứ thế mà “tuôn” ra, không cần thời gian suy nghĩ, đắn đo, cân nhắc.

“Đười ươi chân kinh” – một Bùi Giáng thuần khiết
Có mặt trong buổi tọa đàm, dịch giả Nguyễn Nhật Anh, người biên soạn cuốn “Đười ươi chân kinh” của Bùi Giáng chia sẻ: “Hiện tại có một nghịch lý đang tồn tại khi nói về văn thơ Bùi Giáng. Là một tác gia lớn, với khối lượng tác phẩm đồ sộ hàng trăm đầu sách, nhưng giờ đây, việc đọc và tiếp thu Bùi Giáng lại có tác dụng ngược. Di sản khổng lồ ông để lại trở nên khó tiếp cận với quá nhiều tạp nham, lặp lại, không rõ ràng… Xuất bản miền Nam trước 1975 thường in tác phẩm của Bùi Giáng theo kiểu viết gì in nấy, để lại một Bùi Giáng mênh mông hỗn tạp, thượng vàng hạ cám, và hẳn là “tẩu hỏa nhập ma” trong những thời kỳ “điên rực rỡ”. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến những quan điểm trái ngược nhau về con người và thơ ca Bùi Giáng”.

Bởi vậy, “Đười ươi chân kinh” xuất bản lần này đã làm nhiệm vụ gạn lọc, bỏ đi những thứ tạp nham, trôi nổi và giữ lại một Bùi Giáng thuần khiết, một Bùi Giáng rất vui, nhưng cũng rất triết, rất sâu. Tuyển tập dành phần ưu tiên cho những thi phẩm của Bùi Giáng xuất bản trước 1975, thời kỳ Bùi Giáng vẫn còn là một “trung niên thi sĩ” đích thực. Ngoài ra, cuốn sách cũng dành một chương cho những câu thơ lẻ xuất thần được nhiều người yêu thích của Bùi Giáng, những câu thơ như: “Yêu cầu cô bán cho tôi/ Một bó rau muống chịu chơi quê nhà” hay “Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi/ Đi lên đi xuống đã đời du côn”…

Bên cạnh thơ là phần dành cho đoản văn và tiểu luận, cùng với một tập truyện chưởng “Kim kiếm điêu linh” của tác giả Ngọa Long Sinh do Bùi Giáng dịch. Tất cả nhằm tạo nên một bức họa đầy đủ nhất về con người và sự nghiệp của “đười ươi thi sĩ”, một huyền thoại sống đúng nghĩa, một gương mặt văn học đa tạp thuộc loại kỳ lạ nhất, người được nhà thơ Thanh Tâm Tuyền ví như một thiên tài – “thiên tài tự hủy ghê gớm nhất của thi ca Việt Nam hiện đại”.

Theo Thu Thủy - LĐO

Thứ Hai, 26 tháng 12, 2011

KHÓ RI - NGUYỄN Y ANH


Khó ri,
mà anh bắt em phải tính...
Tay em trắng ngả xanh, không hơi ấm
Lạnh thì dư

Em vỡ òa tình cờ ngày gặp lại,
Thảng thốt...
Anh mặc nhiên nhìn
mà em thì khắc khoải, bão dông

Cây bút tặng em sinh nhật nọ,
Gạch đầu dòng những yêu dấu khó phai
Chừ vẫn đó, lặng yên trong khe tủ...
Vỏ chưa mờ
màu tím một thời,
mà răng
em không thể
Vẽ trái tim liền nét thuở ngày xưa?

NGUYỄN Y ANH
lúc rất buồn...2011

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

[HD] Dưới bóng cây 2011 – Hoạt hình 3D Việt Nam

Dưới Bóng Cây - Hoạt hình 3D Việt Nam


Công bố năm: 2011

Tên Project: G-project

Kịch bản: "Dưới bóng cây" ra đời với mong muốn tạo ra một phim hoạt hình mang thật nhiều tính giải trí cho các bạn nhỏ, đồng thời qua đó lồng các bài học nhẹ nhàng về tính khoác lác hay tình bạn dễ thương...

À quên! Giải thích dùm bạn Kua ít nói trong phim: Lúc Chuột rủ Kua đi cứu Ếch, Kua hông sợ, Kua không chạy đi luôn, mà Kua chạy dìa nhà chuẩn bị vũ khí để giúp Chuột đi giải cứu Ếch. Chỉ có điều khi Kua chuẩn bị xong, thì Chuột đã đi mất tiêu rồi.


Thông tin thêm :

_Diễn viên lồng tiếng: Đoàn Trần Anh Tú - Chuột

_Đỗ Thị Minh Thư - Ếch

_Nhân lực: Bốn thành viên toàn thời gian và một thành viên bán thời gian

_Thời gian thực hiện: 4 tháng

_Kích thước project: 322.6 GB

_Render: hơn 18.000 tấm hình ( 1 lớp beauty, 1 lớp zdepth )

_Số Shot: 72

Xin chân thành cảm ơn Mr. Phan Văn Bảy và Mr. Hồ Văn Doãn đã tận tình hỗ trợ Colory thực hiện dự án này.


Xem Dưới Bóng Cây - Hoạt hình 3D Việt Nam HD Online trên Youtube:

[HD] Cô bé bán diêm 2011 – Hoạt hình 3D Việt Nam [Full]

Cô Bé Bán Diêm - Hoạt hình 3D Việt Nam


Tác phẩm nổi tiếng "Cô bé bán diêm" của nhà văn Andersen được êkip người Việt mang tên TrueD chuyển thể thành phim hoạt hình ngắn cùng tên, định dạng 3D.

Bối cảnh bộ phim là một con phố châu Âu cổ điển tuyệt đẹp, một cô bé bán diêm với những que diêm trong đêm tuyết trắng, lạnh giá, đói rét, cô độc. Nhân vật chính, cô bé bán diêm được tạo hình sống động với đôi mắt to tròn, hồn nhiên và khuôn mặt đầy biểu cảm. Khung cảnh cổ kính của đất nước Bắc Âu với những mái nhà phủ tuyết cũng được thể hiện sắc nét, truyền được cảm giác thật về sự lạnh lẽo, buốt giá.


Một nhân vật nữa của bộ phim là chú chó hoang, người bạn duy nhất của cô bé cũng gây xúc động cho người xem với hình ảnh chú chỉ chạy được bằng ba chân, chạy về mang theo một mẩu bánh mà có lẽ chú đã khó khăn để lấy được.


Phiên bản hoạt hình 3D tuyệt đẹp dài gần 7 phút Cô bé bán diêm đã ra đời bởi êkip người Việt: đạo diễn Đoàn Trọng Hải, tạo hình nhân vật và chất liệu: Hồ Thục Đoan, Lê Thanh Mai… Dù chưa hẳn đã là một phim hoạt hình hoàn hảo bởi chỉ dài gần 7 phút, không sử dụng thoại, nhưng Cô bé bán diêm đã cho thấy sự chăm chút của êkip làm phim với từng chi tiết để người xem dù thuộc lòng câu chuyện cổ tích của Andersen vẫn thấy xúc động với mỗi que diêm mà cô bé thắp lên để không mất đi cơn mơ đẹp nhất là người bà hiện ra.

Xem Cô Bé Bán Diêm HD online trên Youtube:


MƠ TÌNH XỨ HUẾ - TRẦN DZẠ LỮ

Cứ mỗi lần nghe giọng của em
Anh lại nhớ vô cùng giọng mạ
Cố Đô mình trong trái tim mô lạ
Răng thẩn thờ như thuở mới quen?

Cau Nam Phổ thêm miếng trầu têm
Là Tình Yêu đỏ hồng buổi chợ
Mắt của em là con mắt nhớ
Gọi anh về dưới bóng quê cha…

Đò chợ Dinh không còn chuyến người qua
Bời chiếc cầu bắt ngang Gia Hội
Anh vẫn chín- đợi- mười- chờ, em nói
Tiếng bên tê nghe dễ lạc lòng!

Thương mạ một thời gạo-chợ-nước-sông
Câu Mái Nhì nhả ra chung thủy
Thỏ thẻ, ngọt ngào là con gái Huế
Yêu cháy lòng cũng con gái Kim Long…

Nghe giọng em rất dễ mềm lòng
Lương Sơn Bạc cũng sửng sờ, chùn bước
Huống chi anh-gã giang- hồ- áo-bạc
Cứ mơ tình xứ Huế mắt đăm đăm…

Trần Dzạ Lữ
( SàiGòn , tháng 12 năm 2011)


Thơ -Hoa mỗi ngày

 
 
HOA MỖI NGÀY


Mỗi ngày tôi hái một đóa hoa tươi.
Mang đến sở nụ cười vui chan chứa
Đi làm vẫn như chưa rời khỏi cửa.
Tưởng chồng con , điểm tựa sát bên mình.

Mỗi ngày tôi chọn lựa một niềm tin ,
Dẫu đời sống muôn nghìn lần trắc trở.
Nổi thất vọng có làm tôi đau khổ ?
Chính đam mê tìm chỗ giữ bình an.

Mỗi ngày tôi thử thả trí đi hoang ,
Để tâm thức được lang thang thoải mái.
Tận đâu đấy ước mong sao tìm thấy ,
Chút hành trang gom lại dưỡng tâm mình.

Mỗi ngày tôi tự tập phải biết khinh ,
Những cặn bã ẩn mình trong giả dối.
Biết mà tránh chân mình không lạc lối ,
Để cảm thông chia nổi khổ nhân tình.

Mỗi ngày tôi cố gắng giữ tâm minh ,
Đủ mềm mỏng để bình yên len lỏi.
Cứng cáp nhẫn nhục trôi theo mọi lối ,
Chẳng khiến đời lầm lỗi , miễn hại người.

Mỗi ngày tôi vẫn hát điệu nhạc vui ,
Ru cô bé trong tôi say mộng mị.
Giấc mơ đẹp ủ hồn tôi thật kỷ...
Bé mà đi , tôi chỉ... quả tim khô.

Mỗi ngày tôi lại khóc một bài thơ ,
Nàng thi sĩ lẳng lơ buồn tình phụ.
Để hiểu được nổi đau khi tình rủ ,
Thấm sâu lòng nếu phủ phàng bủa giăng.

Tối nào tôi chẳng nhõng nhẻo với chàng !
Vờ hờn dỗi rồi mang vào giường ngủ ,
Để anh biết muôn đời anh không cũ.
Biển dạt dào sóng phủ triều cuộn dâng.

Mỗi ngày đời tôi buộc phải ân cần ,
Bởi hạnh phúc ngàn cân luôn vô giá.
Niềm luyến ái chẳng bao giờ mất cả ,
Trao về người ta đã nhận hương hoa.


---mpn--- 22-12-2011

 

Thơ - Vô ưu










VÔ ƯU
 
Chẳng phải hoa đâu ,em giọt sương !
Giọt sương lóng lánh bởi nắng vương
Bình minh đến sớm em chờ đón ,
Đốm lửa tin yêu - nắng vô thường.

Giọt sương khoe sắc trong nắng ấm
Hoa nắng đẹp xinh từ mắt anh.
Mỹ Nhân đến từ tim anh đó !
Thắp sáng niềm tin giữa đời thường.

Hoa nắng lung linh vương khắp nơi ,
Bình minh chim hót điệu nhạc vui.
Từ khi hoa kết tinh bởi nắng
Là khi em biết sống cho đời.

---mpn---20-12-2011

 

Thơ- Giọt tình

 

GIỌT TÌNH

Giọt sương chia đôi nổi nhớ
Giọt tình lóng lánh trên mi
Lòng em bơ vơ bối rối
U tình có phải vô tri ?

Lời ai thở than trong gió
Tự tình trong nổi chia ly
Tình ơi ! Anh không hay có ?
Tịnh tâm -tịnh ý -tịnh thi.

Lạnh đông vương vương khóe mắt
Lạnh lòng chẳng nỡ bỏ đi...
Tình ai như xoay như lắc ?
Xa xôi cách trở một khi.

Hạt sương tan trên mí mắt
Lệ sầu đẫm ướt bờ mi.
Từ khi nghe tâm thắc mắc ?
Là khi buông thả xuân thì.

---mpn---19-12-2011

 


Thơ - Tĩnh




TĨNH ... 

Im lặng suy gẫm chuyện đời ,
Đếm nhịp thời gian trôi .
Lắng nghe nhịp mưa nức nở...
Tủi hờn đau thân tôi .

Hạnh phúc chỉ là nổi nhớ
Một lần ngỡ là mơ ...
Cuộc đời trãi qua giông tố ,
Bờ yên tĩnh lặng chờ .

Ai từng khiến ta chua xót ?
Những lời nói thật lòng .
Người dám vì ta mang tiếng ,
Dẫu lòng trắng như bông .

Ngoài kia mưa rơi tí tách ...
Mưa nói gì với em ?
Lặng yên nghe hồn gió thổi
Say cuốn quýt vỗ về...

Anh ơi , hãy cứ đam mê ,
Khép tình trong tĩnh lặng .

Vì đâu ta nên nông nổi ?
Nhún nhường đến vậy thôi .
Anh chẳng làm chi nên tội ,
Đừng buồn nữa , Anh ơi !

---MPN--- 25/12/2011


 

Thơ - Mưa Đông

 
 
MƯA ĐÔNG







Từ lòng lạnh lẻo mưa Đông
Thổi cơn giông tố chao bồng phố xưa
Tóc mai sợi vắn lưa thưa
Bao mùa qua cửa sao chưa vơi sầu ?

Hỏi trời đã hết đêm thâu ,
Mà sao buốt giá rầu rầu âm u .
Giữa đêm lẳng lặng không dù
Một mình đi dạo ngao du đất trời .

Lên non hỏi áng mây trôi
Mây về đâu nhỉ gởi tôi áng hồng .
Nhẹ nhàng với nhé , mưa Đông
Nhỡ khi nụ Cúc , nụ Hồng tả tơi .

Mùa xuân sắp đên bên trời .
Thoả câu quan họ ,lả lơi duyên tình
Hội Lim nếu chẳng thấy mình ,
Hẹn Anh mùa tới hội đình làng Thanh

Đang Đông nắng chẳng được hanh .
Se mành sợi chỉ ,liền Anh hãy chờ
Mưa Đông dẫu có bao giờ
Tàn hoa hại cỏ ,vật vờ lòng ai .

Cột giùm em sợi chỉ mai
Mưa Đông giăng ngõ ...hỡi ai đừng về !

---mpn---24-12-2011 NOEL CALI .

TIN BUỒN

ĐƯỢC TIN

HIỀN THÊ NHÀ PHONG THỦY HUỲNH NGỌC THƯƠNG
MARIA TRẦN THỊ NHUNG

VỪA QUA ĐỜI TẠI HOA KỲ NGÀY 22 . 12 . 2011
HƯỞNG DƯƠNG 58 TUỔI

THÀNH THẬT CHIA BUỒN ĐẾN
ANH HUỲNH NGỌC THƯƠNG VÀ TANG QUYẾN
CẦU NGUYỆN HƯƠNG HỒN CHỊ SỚM VỀ NƯỚC CHÚA

Trần Vàng Sao - Viêm Tịnh - Huy Vĩnh - Nguyễn Văn Trai
Nguyễn Miên Thảo -Thái Nguyên Hạnh - Phạm Tấn Hầu - Lê Ngọc Thuận
Từ Hoài Tấn - Hồ Trọng Thuyên - Văn Viết Lộc - Trần Dzạ Lữ - Trần Thị Lạc
Phan Lệ Dung - Châu Thu Hà - Ngọc Quý - Hồ Cẩm Dung - Trương Bích Diệp
Lê Thị Nguyện - Hạ Nhiên Thảo và các bằng hữu Huế , Sài Gòn ...
25.12.2011

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011

GIÁNG SINH CỦA RIÊNG ANH - NGUYỄN MIÊN THẢO

Giáng sinh của riêng Anh

Giờ Chúa ra đời anh còn trên sạn đạo
giữa đêm đông hoang lạnh đến vô cùng
anh đi tìm em đêm dài vô tận
ơn Chúa lòng lành ,Người hiểu được anh không

Chúa mãi mãi là hài nhi mà anh thì bạc tóc
Chúa ấm áp trong hang anh lạnh lẽo trong hồn
em giáng sinh anh giữa ngày xuân muộn
anh tự đóng đinh mình không một chút ăn năn

và từ đó anh thành con chiên ngoan đạo
Chúa là em em là Chúa khác gì
đêm thánh vô cùng hoá thành giông bão
chiếc hang đời giam lỏng cuộc tình si

giờ phút Chúa ra đời anh nhớ em da diết
đêm giáng sinh xa cách đến muôn trùng
anh vẫn đi tìm em trong dư âm tiếng hát
lời Thánh buồn cứ đuổi riết sau lưng...

(Đêm Giáng sinh 24 rạng sáng 25.12.2008,Sài Gòn)

NMT

Thơ - Tan vào Tuyết


TAN VÀO TUYẾT


Gió quất từng cơn giăng bảo tuyết,
Thành phố nhòa mịt mù  .
Nhịp gió hú rền trong đêm vắng ,
Cõi lòng sao hoang vu .

Tuyết phủ trắng ngập mờ muôn lối ...
Ánh mắt buồn chơi vơi ...
Lạnh đông ngấm sâu vào tận phổi ,
Bâng khuâng hồn rã rời .

Ai đã từng sống nơi tuyết phủ  ?
Mới thấu nổi lạnh đời .
Nếu đã từng lạc trong đêm tối
Chấp nhận nổi đơn côi .

Tuyết rất đẹp trong mắt yêu đời ,
Trăng trắng bông tuyết rơi ...
Mưa tuyết thả từ bi hỉ xã ,
Lòng nhẹ nhỏm buông lơi .

Hoa băng giá nguyên sơ trinh bạch
Trắng xóa ánh rạng ngời .
Đêm giáng sinh ngắm trời rơi tuyết ,
Thả dòng đời tự trôi .

Ai đã từng đi qua chốn vắng  ?
Mến vẻ đẹp thị thành .
Ai dám trèo lên trên đỉnh núi ,
Khát thèm bầu trời xanh .

Nếu có lúc hồn ta mất hướng ,
Hãy ngắm ánh mặt trời .
Những lúc lòng hoang vu bảo tuyết ,
Thả mình như tuyết rơi .

Tuyết đẹp nhất khi tôi chưa thấy  !
Tưởng tượng đẹp ý thơ .
Ước ao được ăn từng cụm tuyết ,
Như ăn kem của trời .

Đi giữa tâm bảo tuyết , ngẫm đời ...
Đôi chân ngập sâu xuống ...
Tuyết tan lạnh đầu môi , mỉm cười ...
Bước chân hụt hẫng - tôi !

Vốc cụm tuyết lạnh xoa trên mặt
Rửa sạch bụi thời gian .
Từng vốc lớn thả trôi trên tóc ...
Tan giùm tôi lỡ làng ...

---muaphonui---






Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

BÀI TẠ TỘI THỨ NHẤT - NGUYỄN MIÊN THẢO


Nụ hồng ươm lại làm chi
Nghìn năm còn có chút gì cho nhau
Anh chừ tóc trắng bông lau
Em còn xanh mướt nỗi đau dậy thì

NMT

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011



MỪNG SINH NHẬT VỢ

TRẦN THỊ LẠC

22 THÁNG 12

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2011 (KỲ 96)



NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

961 - Nguyễn Nhật Ánh
VƯỢT QUA LÝ LỊCH ĐI LÊN

Nhà văn sinh 1955 tại Quảng Nam. Sống ở TPHCM (2011).

Học ở Đà Nẵng, từ năm 13 tuổi đã có thơ đăng báo. Năm 1973 vào Sài Gòn học ngành sư phạm.

Biến cố 30.4 đến vào lúc sắp tốt nghiệp sư phạm thì vướng vào vấn đề lý lịch thuộc loại “đen” do cha làm quan chức chống Cộng ở quê nhà phải đi cải tạo dài ngày.

Biết khó vươn lên nổi trong tình cảnh bị chính quyền mới nghi kỵ nên tình nguyện không chờ bổ nhiệm đi dạy học mà gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong TPHCM đợt đầu tiên (cùng nhà thơ Đỗ Trung Quân, nhạc sĩ Lã Văn Cường) lên đường đi khai hoang ở Tây Nguyên.

Chính trong môi trường này đã có cơ hội được tự do phát triển tài năng, nhiệt huyết đặc biệt về phương diện sáng tác văn chương. Từ đó nổi lên là một nhà thơ TNXP hàng đầu với bài thơ ấn tượng “Đầu xuân ra sông giặt áo” được đồng đội phổ nhạc.

Nhờ đó cùng Đỗ Trung Quân được rút về làm Bộ Chỉ huy TNXP tại TPHCM, tham gia làm tập san Tuyến đầu của TNXP TPHCM. Bắt đầu cộng tác với các báo, gặp được “thầy” Hoàng Ngọc Biên dìu dắt, giúp đỡ.

Trong thời gian này đã có một cuộc tình từng gây xôn xao nội bộ cơ quan: Con quan chức Ngụy “gộc” mà dám yêu và định kết hôn với nữ thủ trưởng đảng viên nòng cốt dân thành phố đi lên từng được xem là gương điển hình tiên tiến của thanh niên TPHCM! Tất nhiên tổ chức đảng không đồng ý song đôi lứa dũng cảm tranh đấu cuối cùng lấy được nhau đến nay vẫn hạnh phúc đầm ấm.

Năm 1986 được báo Sài Gòn Giải Phóng nhận vào làm phóng viên viết văn hóa văn nghệ và cả bóng đá nữa. Cũng năm này in tập thơ riêng đầu tiên “Đầu xuân ra sông giặt áo”.

Nhưng cũng từ đó, rất nhạy bén thị trường nên ít làm thơ nữa mà quay qua viết truyện đặc biệt tập trung vào đối tượng thanh thiếu niên – tuổi teen, tuổi mới lớn bây giờ - dần dà trở thành nhà văn số 1 ăn khách nhất của lớp tuổi này.

Nổi bật là bộ truyện “Kính vạn hoa” gồm đến 51 tập viết từ năm 1995 – 2002 (và còn viết tiếp) đạt nhiều kỷ lục “Bộ truyện phát hành nhiều nhất” (2 triệu bản), “Bộ truyện nhiều nhân vật nhất” (khoảng 200 nhân vật), “Tác giả nhận thư độc giả phản hồi nhiều nhất” (hơn 10.000 bức thư)… Năm 2009 có cuốn truyện pha hồi ký “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” đoạt giải Văn học ASEAN 2010.

Đến nay đã in gần 100 tác phẩm trong đó thơ chỉ có 1 tập in chung 3 tập in riêng, tập cuối tận năm 1994.

962 - Nguyễn Quý Đức
NẠN NHÂN MẬU THÂN QUÊN HẬN THÙ
Nhà báo Việt kiều Mỹ sinh 1959 tại Huế. Sống ở Hà Nội (2011).


Trong biến cố Mậu Thân 1968 tại Huế, cha là quan chức cao cấp chính quyền VNCH nên bị cộng sản xem là tù nhân chính trị bắt đem ra Bắc. Mẹ là nhà giáo (dòng họ Nguyễn khoa nổi tiếng) may mắn đem các con trốn thoát vào Đà Nẵng rồi Sài Gòn làm nghề bán mì sợi vỉa hè nuôi các con.

Đến 30.4.1975 bản thân được mẹ gửi cho gia đình ông cậu di tản qua Mỹ sống với người anh đi du học bên đó từ trước.

Lớn lên vào đại học theo ngành phát thanh truyền hình.

Ra trường 1979 ban đầu làm công tác xã hội, sau chuyển hẳn qua làm đài phát thanh vừa viết báo, viết văn (thơ, truyện ngắn, kịch, tiểu luận…), dịch thuật.

Trong lúc đó mẹ và anh chị em vẫn còn ở Sài Gòn. Năm 1980 cha mới được thả ra sau 12 năm cầm tù. Năm 1984 cả gia đình mới được cho qua Mỹ đoàn tụ gia đình, chỉ có một em gái mắc bệnh từ nhỏ chết chôn trong nước.

Năm 1989 quyết định trở về VN bất chấp cha phản đối, ban đầu với mục đích đem tro cốt người em gái qua thờ. Nhân đó về lại Huế quê nhà thơ ấu không còn gặp ai quen biết ngày xưa nữa tuy vẫn còn căn nhà cũ của ông nội nay một ông chú – bộ đội miền Bắc vào! -- đang ở.

Từ đó bắt đầu quá trình làm quen lại với quê hương dù gặp không ít khó khăn, bị chính quyền nghi kỵ là nhà báo từ Mỹ nên theo dõi, hạn chế việc đi lại đây đó để tìm đề tài viết. Nhưng vẫn kiên trì đi thăm thú khắp nơi, ra tận Hà Nội gặp gỡ giới văn nghệ sĩ tiến bộ.

Cứ thế về VN liên tục 5 lần, có lần ở đến 6 tháng. Qua đó lấy cảm hứng viết một loạt bài về “quê hương tìm thấy lại” đăng báo Mỹ (cả tờ nổi tiếng như New York Times) được tặng giải thưởng báo chí Mỹ về đề tài nước ngoài, tuyên dương là một trong 30 nhà báo Mỹ gốc Châu Á xuất sắc. Đồng thời còn dịch một số tác phẩm của các nhà văn nhà thơ VN hiện đại – Hữu Thỉnh, Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê… -- ra tiếng Anh.

Năm 2006 quyết định về Hà Nội… ở hẳn, còn đưa bà mẹ 82 tuổi về theo.

Một năm sau bỏ tiền ra mua đất trên đỉnh núi Tam Đảo xây căn nhà kiểu rất Tây toàn bằng đá và kính thủy tinh. Dùng làm nơi làm việc của một người “không bị ràng buộc bởi những ân oán xưa cũ của chiến tranh” tiếp tục viết về các đề tài văn hóa, văn học, nghệ thuật, xã hội VN hôm nay gửi đăng báo Mỹ.

963 - Nguyễn Quỳnh Lộc
NHẬT KÝ CỦA NGƯỜI SỢ MẤT TRÍ NHỚ

Nông dân sinh 1954 tại Nghệ An. Sống ở Nghệ An (2011).

Năm 1972 đi bộ đội vào chiến trường Buôn Ma Thuột, sau 1975 còn qua chiến đấu ở Campuchia.

Năm 1985 giải ngũ về quê, lấy vợ năm 1987 sinh được 4 con.

Bản thân mang nhiều thương tích trên chiến trường miền Nam với thân thể chi chít vết sẹo đạn bom, một chân không co lại được làm đi đứng rất khó khăn, tai trái bị điếc đặc vì sức ép của bom. Nặng nhất là vết thương ở đầu gây chứng đau đầu kinh niên khiến những lúc đó gần như mất trí nhớ luôn.

Vì vậy thường xuyên viết nhật ký công việc hàng ngày đề phòng sau cơn đau đầu nếu lỡ quên mất ký ức chuyện cũ thì đọc lại để nhớ mình – và gia đình – là ai, ở đâu, làm gì!

Cuốn nhật ký đó cũng là cuốn “lịch sử” CĐDC của đời mình và đời con. Bởi từ CĐDC bản thân nhiễm phải đã sinh ra 3 trong 4 đứa con đều chịu di chứng, trầm trọng nhất là dứa con trai thứ ba sinh năm 1993 có hình hài nhỏ xíu dị dạng, cụt cả 2 tay từ khi mới lọt lòng mẹ, đầu to, mắt thụt sâu vào. Đến 4 tuổi vẫn chưa biết nói biết đi nằm liệt một chỗ phải nuôi bằng nước cơm.

Dù vậy người cha đã làm tất cả để cho con được sống. Không chỉ thế, dần lớn lên còn giúp con tự học mẫu giáo ở nhà bằng cách lấy chân tập viết mất 3 năm, 9 tuổi mới đượïc nhận vào lớp 1. Tốt nghiệp THPT rồi thi đậu vào ĐH Công nghệ thông tin TPHCM. Thế là bây giờ lại một tay cha đưa con vào trường, thuê nhà ở thành phố để chăm lo cho con ăn học.

Tất cả hành trình cuộc đời vất vả rướm máu ấy (ngón chân con kẹp bút tập viết đến trầy da tươm máu) đều được ghi chép lại trong cuốn vở học trò mà người cha luôn mang theo trên từng dặm đường đưa con hòa nhập với xã hội, cuộc sống: Nhật ký Cha – Con Chất độc da cam.

964 - Nguyễn Rường
NGƯỜI NGÂM NƯỚC

Thương binh sinh tại Ninh Bình. Sống ở Ninh Bình (2005).

Bộ đội trên chiến trường miền Nam bị thương nặng với 3 mảnh đạn xuyên vào đầu không lấy ra được khiến liệt nửa người (thương tật 81%) được đưa về trại an dưỡng Hà Nam.

Vết thương chí mạng để lại nhiều di chứng nói ngọng, đau đầu, lên cơn co giật, mê sảng (hô xung phong, tấn công như đang còn ở trong trận chiến). Những lúc đó trong người nóng như thiêu đốt, như có lửa cháy toàn thân khiến cứ bắt đi tắm mãi cho người đỡ nóng.

Thấy mình đã tàn tật rồi nên có ý muốn chia tay với mối tình thời trẻ cùng cô thôn nữ hàng xóm ngày xưa, cố giấu biệt tin tức về mình không cho cô biết .

Không ngờ người yêu vẫn một lòng chung thủy không chịu, cô đã đi khắp các bệnh viện, trại an dưỡng đến đâu cũng chìa bức ảnh anh ra hỏi tìm. Cuối cùng cũng tìm được song anh một mực cự tuyệt, không muốn làm gánh nặng cho cô. Nhưng cô kiên quyết không từ bỏ, quyết định tiến tới làm đám cưới đàng hoàng năm 1971.

Từ đó một mình người vợ đảm vừa làm ruộng thay chồng vừa lo chăm sóc chồng thường xuyên tái phát bệnh cũ. Khi chồng tỉnh trí còn tập nói tập đi dần dần cho chồng.

Sợ nhất là khi trời nắng chồng phát cơn nóng trong người đến nổi cuồng chạy đi lung tung khắp nơi kiếm chỗ nào có ao làng nhảy ùm xuống dầm người cả buổi cho người đỡ nóng. Có khi vì vậy mà suýt… chết đuối! Đến nỗi trẻ con hàng xóm gọi là “Thủy tinh”, “Thủy thần” của làn

Ấy vậy mà cả 2 vợ chồng lại… sinh đến 6 đứa con.

Chị vợ vẫn nuôi được mới quá giỏi, nuôi cả chồng bệnh thập tử nhất sinh lẫn đàn con nheo nhóc nơi quê nghèo, cả 30 năm nay rồi. Bây giờ đã có cháu!

965 - Nguyễn Tấn Đời
“THẦN TÀI” MỘT THỜI

Doanh nhân sinh tại Châu Đốc - Mất ở Mỹ (70 tuổi).

Xuất thân gia đình nông dân nghèo. Lớn lên làm nghề buôn trâu bò qua biên giới VN – Campuchia kiếm được nhiều tiền nhờ năng khiếu bẩm sinh rất nhạy bén chuyện kinh doanh tuy không được học hành đàng hoàng.

Có số vốn kha khá rồi năm 1954 lên Sài Gòn tìm cách “đổi đời”.

Và ông Đời quả là đã “đổi đời” thật với bí quyết kinh doanh giữ chữ tín, biết nhìn xa trông rộng và chớp thời cơ nhanh.

Bắt đầu từ được nhận vào làm nhân viên Ngân hàng Việt Nam Thương Tín dần leo tới chức trưởng phòng. Đến đó đã học nghề buôn tiền giỏi rồi mới xin nghỉ việc năm 1966 để ra ngoài một tay dựng nên cơ đồ Tín Nghĩa Ngân Hàng năm 1967 thành công rực rỡ với logo trứ danh “Ông Thần Tài” tay cầm xâu tiền cực kỳ đắt khách. Ngân hàng có vốn ký thác tới 30 tỉ đồng thời đó trong khi các ngân hàng tư nhân khác gộp lại cũng chỉ cỡ 18 tỉ đã tấn phong danh hiệu “Vua ngân hàng”.

Bên cạnh đó còn lập hãng sản xuất gạch bông đáp ứng kịp thời nhu cầu xây dựng thời Mỹ đổ quân vào miền Nam. Kiêm thêm kinh doanh địa ốc, xây bệnh viện tư, khách sạn, cao ốc cho thuê hà rầm với thêm biệt danh “Vua building”.

Cứ thế tiếp tục phất lên gặt hái thành công lớn trở thành một trong những đại gia giàu nhất lúc đó với tổng gia sản ước tính trị giá 22 tỉ đồng.

Chưa hết, lại nhảy vào chính trị ứng cử và đắc cử dân biểu Hạ viện.

Đang lên như diều thì đùng một cái giữa năm 1974 bị chế độ Nguyễn Văn Thiệu bắt bỏ tù vì tội kinh doanh phạm pháp (?). Có dư luận cho tại vì việc kinh doanh kể trên cạnh tranh với việc làm ăn mờ ám của phe Tổng thống Thiệu vốn cũng có một ngân hàng riêng là Kỹ Thương Ngân Hàng. Cũng có giả thuyết đương sự có ý ra… ứng cử tổng thống nên TT Thiệu ngại phải “cắt cầu” trước.

Biến cố 30.4.75 giải phóng miền Nam vô tình giúp “giải phóng” luôn ông chủ ngân hàng cũ ra khỏi tù chạy về vùng quê Rạch Giá để… vuợt biên qua Canada!

Nhưng trên đất Canada nay đã trắng tay theo nghề ngân hàng coi bộ không xong nên đành xoay qua mở nhà hàng bán món ăn Nhật Bản. Được một thời gian thì chuyển qua Mỹ định cư tiếp tục sự nghiệp mới làm chủ nhà hàng tại Florida.

966 - Nguyễn Thanh Liêm
“BẢO TÀNG HOLLYWOOD” Ở VN
Doanh nhân Việt kiều Mỹ sinh 1950 tại Huế. Sống ở TPHCM (2011).
Xuất thân gia đình nghèo (mẹ chằm nón nuôi 9 con) nên năm 1975 di tản qua Mỹ hướng tới sự nghiệp “đổi đời”.

Hành trình thay đổi kiếp nghèo đó không đơn giản mà rất gian nan vất vả. Bắt đầu từ làm lao động rửa bát đĩa nhà hàng, bảo vệ, lái xe cho bãi bán xe cũ… Được một thời gian dành dụm được ít tiền thì lại rơi vào cạm bẫy đỏ đen Las Vegas nướng sạch!

Trở lại tay trắng hoàn trắng tay đành đi làm bồi nhà hàng, dọn dẹp vệ sinh kiếm sống qua ngày… Cuối cùng học nghề làm tóc (kiêm nhuộm tóc, dưỡng da mặt, làm móng) rồi xin vào khách sạn xịn ở Hollywood trung tâm điện ảnh Mỹ và thế giới. Nhờ đó có dịp làm quen với nhiều ngôi sao màn bạc quốc tế lẫn giới thượng lưu Beverly Hill (khu biệt thự nhà giàu, nghệ sĩ tiếng tăm).

Ngẫu nhiên sao cùng lúc lại làm quen với nghề mua bán đồ cổ đâm mê, dần dà mở đến 7 cửa hàng đồ cổ tại đây. Từ đó có sáng kiến kết hợp nghề đồ cổ với giới nghệ sĩ đã quen biết để dần dà trở thành chuyên gia sưu tầm đồ cổ về giới này như tranh ảnh (kèm chữ ký diễn viên, đạo diễn, biên kịch), bích chương quảng cáo phim, các trang phục đóng phim, sách báo nghệ thuật thứ bảy, đạo cụ phim ảnh…

Công việc làm ăn đang phát triển thì đến năm 2002 gặp một sự cố trong gia đình gây buồn phiền mới mua vé về thăm quê mong tìm niềm an ủi cho khuây khỏa tâm sự. Qua đó gặp lại bà con, bạn bè, cây đa cũ bến đò xưa bao kỷ niệm đưa đến xúc cảm suy nghĩ phải làm gì đó để đóng góp cho quê hương.

Thế là nảy sinh ý nghĩ còn gì hơn bằng đóng góp cái mình đã và đang có sẵn trong tay là “gia tài” đồ cổ lưu niệm Hollywood quý hiếm kia?

Nghĩ là làm, bèn lần lượt “tha” bao nhiêu món đồ cổ đó theo từng chuyến bay về nước, đích thân mình mang về hoặc gửi con cái, người quen đưa về. Cả ngàn món như vậy.

Cuối năm 2008, “Bảo tàng Hollywood ở VN” được mở cửa tại một căn nhà 3 tầng lầu ngay trung tâm TPHCM. Đây cũng là địa chỉ định cư luôn của chủ nhân bảo tàng.

967 - Nguyễn Thanh Thủy
NỮ NGỤY QUÂN ĐI CẢI TẠO LÂU NHẤT

Sĩ quan cảnh sát VNCH Việt kiều Mỹ sinh khoảng 1945 tại Mỹ Tho. Sống ở Mỹ (2011).
Gia đình Thiên Chúa giáo, học ĐH Đà Lạt.

Tốt nghiệp về Sài Gòn gia nhập cảnh sát chế độ cũ năm 1966, được gửi đi Malaysia học nghiệp vụ tình báo đặc biệt, trở về làm chuyên viên cảnh sát cấp phòng ở bộ tư lệnh. Đến năm 1969 được bổ nhiệm thiếu tá làm biệt đội trưởng biệt đội Thiên Nga, lực lượng điệp báo nữ thành lập năm 1968 với nhiệm vụ cài người vào nội bộ Việt Cộng lấy tin tức, gây chia rẽ cộng sản.

Đến biến cố 30.4.75 đã tự tay kịp đốt hết hồ sơ về tổ chức Thiên Nga trước khi đi cải tạo (để lại 3 con từ 4-7 tuổi cho bên ngoại nuôi) đến 13 năm (hơn 70 lần bị xét hỏi điều tra nhằm tìm đầu mối Thiên Nga trong nội bộ cộng sản), lâu nhất đối với một ngụy quân ngụy quyền nữ. Chấp nhận “Mình làm mình chịu. Tôi làm với hết lương tâm và trách nhiệm trong công việc và chấp nhận sự phán xét theo pháp luật của mỗi thời cuộc.”

Chồng là đại úy quân đội cũng đi cải tạo nhưng chỉ 6 năm, năm 1981 ra trại phải lo việc… đi thăm nuôi vợ!

Năm 1988 được trả tự do, về làm nghề bán quán cà phê cóc cơm tấm lề đường Sài Gòn. Song song đó vẫn tự tay ký giấy “chứng nhận công tác” cho đội viên Thiên Nga cũ làm hồ sơ đi H.O.

Phần mình năm 1992 mới đi Mỹ.

Nhưng cuộc sống riêng vẫn không gặp may mắn khi 2 con gái đều bị khuyết tật, con đầu bệnh chết trẻ năm 2002, con út mắc bệnh bẩm sinh. Ngậm ngùi “Nhìn lại thấy đời sao lăn lóc quá” nên tìm quên trong công tác xã hội phụ trách trong Hội Cựu quân nhân VNCH ở Mỹ.

968 - Nguyễn Thị Ba
CÁN BỘ “OAN THỊ KÍNH”

Cán bộ về hưu sinh 1926 tại Trà Vinh. Sống ở Trà Vinh (2011).


Là du kích từ thời chống Pháp. Đến 1954 chồng tập kết ra Bắc, để lại vợ và 6 con (4 trai 2 gái).

Sau đó chồng được đặc phái vượt biển bí mật vào Nam trong kế hoạch “Những chuyến tàu không số” vận chuyển vũ khí vào Nam chi viện cộng sản đánh Mỹ. Trong một chuyến đi năm 1964 (ông chồng 16 lần vào ra như vậy), tổ chức cho phép 2 vợ chồng vào bưng gặp nhau 2 ngày tuyệt đối không cho ai biết.

Sau lần gặp nhau đó, chồng quay lại miền Bắc còn vợ trở về thị xã không ngờ… mang thai! Nhưng phải giữ “bí mật quân sự” không dám hé răng báo là mang thai với chồng nên đành nhận đại là…dan díu với người khác!

Thế là bị khai trừ Đảng vì lý do mất tư cách đạo đức, cả gia đình chồng cũng từ dâu cấm lấy họ chồng đặt tên cho đứa “con hoang” này (con gái).

Phải ngậm đắng nuốt cay làm lụng vất vả chẳng ai giúp đỡ để nuôi con bây giờ thành 7 đứa.

Sau 75 ông chồng trở về mới biết mình… có thêm đứa con gái út nữa!

Bấy giờ nội bộ tổ chức mới biết rõ sự thật song vẫn chưa được phép công khai do đường lối chính sách lúc đó giải thích giải phóng miền Nam là do nhân dân miền Nam nổi dậy chứ miền Bắc không can dự gì, không tiếp tế hay đưa quân vào.

Vì thế trên thực tế vẫn không hề có văn bản hay hành động nào nhằm minh oan khôi phục danh dự cho bà vợ dù ông chồng được phong Anh hùng, cả trước khi ông mất năm 2005. Ngay lịch sử đoàn “tàu không số” mãi đến năm 2010 mới bắt đầu được nói đến

Đến thời Đổi Mới có thể làm được việc giải “oan Thị Kính” cho bà vợ thì nay đã lại…quá lâu rồi, muộn rồi, ai cũng quên hết rồi thì làm chuyện đó làm gì nữa!

969 - Nguyễn Thị Đắp
MẸ LIỆT SĨ 95 TUỔI MỘT MÌNH NUÔI CON BẠI NÃO
Nông dân sinh 1917 tại Hà Nam. Sống ở Hà Nam (2011).
Sinh được 3 con trai thì con đầu mạnh khỏe nhất lên 18 tuổi tình nguyện đi bộ đội vào chiến trườøng Quảng Trị rồi… mất tích luôn!

Hai đứa sau, một mất sớm còn một từ nhỏ đã mắc bệnh bại não nằm liệt một chỗ không làm gì được. Chồng chán nản bỏ nhà đi biệt tích luôn.

Còn lại một mình lủi thủi tự tay chăm sóc con đã 54 năm nay, con bây giờ chừng ấy tuổi mà cơ thể chỉ như đứa trẻ lên năm. Một mình cụ làm tất cả từ bón cơm đến gặt áo quần, dọn vệ sinh...

Đã vậy từ mấy năm nay cụ lại rơi vào cảnh… mù lòa!

970 - Nguyễn Thị Hoàn
“BÀ CÒNG” NUÔI CHÁU NGƯỜI TA

Lao động nghèo sinh 1916 tại Hà Tĩnh. Sống ở Hà Tĩnh (2006).
Thời đánh Pháp, chồng đi dân công hỏa tuyến phục vụ chiến trường về đổ bệnh nặng qua đời để lại mình và 3 con nhỏ.

Đến thời đánh Mỹ, nhà bị bom đánh trúng làm chết con gái. Còn lại 2 con trai thì đứa lớn xung phong đi bộ đội vào chiến trường miền Nam. Còn lại 2 mẹ con sống lam lủ qua ngày, đứa con trai út lại lại bị bệnh ngớ ngẩn không học hành gì được đành làm nghề kéo xe chở hàng thuê kiếm được đồng nào hay đồng nấy.

Ngày giải phóng thống nhất đất nước cũng là ngày nhận hung tin con trai đầu đã hy sinh ở trong Nam mà nhà quá nghèo không sao đi thăm mộ được. Cùng lúc bỗng nhiên trên lưng nổi lên một khối u ngày càng lớn bằng quả bí ngô như thể gánh nặng cuộc đời ngày càng đè cả khối đá lên lưng mẹ già nay mang thêm tên “bà Còng” từ đó!

Rồi con trai duy nhất còn lại cũng lấy vợ sinh con đầu lòng đem lại chút nguồn an ủi cho bà nội tuổi già bệnh tật lao đao cả đời. Nhưng đến đứa cháu thứ hai thì lọt lòng mẹ đã không sống nổi vì suy dinh dưỡng.

Thế mà cả gia đình nghèo khốn tận cùng này lại vẫn đa mang nợ đời từ năm 1991 nuôi thêm… 3 đứa con nữa vốn bị bỏ rơi từ lúc sơ sinh. Toàn do anh con trai nhặt được ở nghĩa trang, bãi rác, bệnh viện đưa về giao cho mẹ lo.

Thật là một gia đình lạ lùng với “bà Còng” mẹ liệt sĩ hơn 90 tuổi còn chăm sóc hết lòng cho 4 đứa cháu trong đó hết 3 đứa là con người dưng nước lã, còn người con trai tuy tâm trí không bình thường song lại tốt bụng hơn biết bao người lành mạnh.

(Còn tiếp)

Thơ- Nhớ anh từ cõi nắng xưa






NHỚ ANH TỪ CÕI NẮNG XƯA ...
 Cho em chút nắng trong ngần !
Hong bàn tay ướt , nụ măng búp đầy.
Cho tim thắp lửa hương say
Làn môi mọng ngọt ,đuôi mày lả lơi .
Ngoài sân vương vãi nắng tơ  
Trong tim còn chút mộng mơ quên ngày
Đưa tay em vốc ngụm đầy
Nắng ơi , cứ ở lại đây đừng về.

Chiều tàn bóng ngả triền đê
Bước chân lặng lẽ tìm về nẻo xưa.
Tiếc thương biết mấy cho vừa
Nắng xưa nhè nhẹ...ửng vừa đủ say.

***
Lời anh bảo phải vâng ngay ,
Tràng thơ lục bát những ngày nhớ anh.
Ơ kìa ,nếu biết đã đành.
Làm sao nhớ được một người mới quen

Hay em thử tưởng tượng xem.
Anh chàng thi sĩ vừa đen vừa gầy.
Mặt nghiêm chững chạc lắm đây ,
Một lời chàng phán... gió mây rụng rời...

Đừng hòng em chẳng rỗi hơi !
Khi không sao lại nhớ người đầu non.
Ra đường em giống gái son ,
Về nhà thì đã chồng con đầy đàn.

***
Gieo chi nổi nhớ hoang đàng...
Ngập tràn mộng ước hỡi chàng , người dưng !
Mùa đông con nắng lưng khừng
Nửa say nửa lạ , nửa ngừng nửa trôi.

Thương ai lúng liếng vành môi ,
Thương lời ngọt lịm trau dồi ý thơ.
Hình như ai chớm ươm mơ ,
Đuổi theo con nắng vung tơ đầy trời.

Để cho nổi nhớ chơi vơi...
Người dưng khác họ cùng quê quán mình
Gió say nắng đuổi chùng chình...
Em say... nỗi nhớ...tang tình...thả mơ

***
Vui buồn theo mỗi câu thơ ,
Lòng em thả sợi chỉ tơ tung hoành.
Gió đưa gió đẩy ,nắng hanh !
Em giăng sợi nhớ bồng bềnh sóng yêu.

Đêm nay có kẻ đăm chiêu
Trao thương gởi nhớ để chiều lòng anh
Em nàng Tố Nữ trong tranh ,
Bước ra từ mộng vỗ anh giấc nồng.

À ơi , anh ngủ mộng trong.
Hành trang nhẹ hẫng , sóng lòng đầy vơi.
Bút nghiên lặng ngắm sao trời ,
Em lay cánh võng ru hời giấc thơ.

***
Đêm tàn trăng lặn vào mơ ,
Em ru anh ngủ dệt tơ mộng vàng.
Hanh hao nổi nhớ bên đàng...
Đem cho anh mượn...đoan trang còn gì ?

Thương ai một kẻ tình si !
Chia anh bớt nửa xuân thì cõi em.

Về xưa...nắng ngã...thềm loang !
Mình ơi , nổi nhớ...Thiên Đàng anh...mơ.

---muaphonui---

 

10 dấu hiệu nhận biết 'một nửa' phù hợp

Nếu một ngày mà mọi suy nghĩ và dự định tương lai của bạn đều hướng về người ấy thì chứng tỏ mối quan hệ của cả hai sắp bước sang giai đoạn mới.


Khi bạn gặp một ai đó, nếu chỉ tiếp xúc một thời gian ngắn, thật khó để nhận xét người đó có phù hợp với bạn không? Mối quan hệ của hai người có thế vượt ra ngoài ranh giới tình bạn không? Dưới đây là 10 dấu hiệu cho thấy người ấy là "một nửa" bạn đang tìm kiếm:

1. Mọi người đều có điểm mạnh và điểm yếu của họ. Bạn yêu người ấy và bất chấp những khiếm khuyết. Đồng thời đánh giá cao khả năng của người ấy. Đó là dấu hiệu cho thấy bạn đã bị người ấy cuốn hút và việc đi tới tình yêu chỉ là vấn đề thời gian.

2. Bạn muốn người ấy làm quen với gia đình, bạn bè và thói quen hàng ngày của bạn. Lúc nào bạn cũng cho nhu cầu chia sẻ và cảm thấy thoải mái để nói cho người ấy biết cả những chuyện thầm kín, các thói xấu.

3. Bạn quan tâm đến mọi điều về người ấy: cả những niềm vui và nỗi lo lắng. Ở bên cạnh người ấy và cùng người ấy giải quyết công việc là nhu cầu, sở thích của bạn lúc này.

4. Khi nghĩ về tương lai, bạn luôn thấy hình ảnh của người ấy xuất hiện. Bạn lên kế hoạch xây dựng gia đình, mua nhà, đi du lịch với người ấy. Mọi việc bạn làm hiện tại đều vì một tương lai tốt đẹp bên người ấy.

5. Cả hai dường như có thể chia sẻ với nhau mọi mục tiêu liên quan đến sự nghiệp và cả việc riêng tư.

6. Bạn có thể tự tin khẳng định rằng đây là lần đầu tiên những cảm xúc như thế xuất hiện và đó là người đầu tiên làm được điều này.

7. Mỗi khi bên người ấy, một cách vô thức, bạn đánh mất cả sự logic và lý luận sắc bén hàng ngày. Bạn luôn khao khát hai người được ở bên nhau và thường trực suy nghĩ về hôn nhân, ngay cả khi chưa chính thức bắt đầu mối quan hệ với người ấy.

8. Cảm thấy buồn buồn nếu không thấy sự xuất hiện của người ấy. Dù có thể chẳng nói chuyện gì nhưng cứ nhìn thấy người ấy online là bạn đã vui rồi. Bạn háo hức được gặp mặt người ấy mặc dù gặp xong cũng chẳng để làm gì.

9. Nói về tương lai của hai người là chủ đề được yêu thích nhất.

10. Bạn không nghĩ nhiều về sex. Không coi đó là việc phải có của tình yêu nhưng cũng không quá khắt khe để đề phòng.

Theo Ngoisao.net

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

Thơ -Hãy cho em thiên đường



HÃY CHO EM THIÊN ĐƯỜNG


Giọt trong vắt ,sương long lanh khoe sắc ,
Cơn mưa đêm tí tách vỗ giấc nồng.
Chiếc lá rơi hiu hắt - nỗi chờ mong
Em ẩn dấu chiều không gian đa sắc

Em hỏi thật nơi lòng Anh còn chắc ?
Làm ánh trăng vằng vặc sáng trong đêm
Để hồn em thỏa giấc mộng êm đềm.
Ôm huyền thoại ru em say mộng mị.

Mai kia dẫu tình mình không tồn tại
Kỷ niệm còn vương lại mãi trong nhau.
Và nghìn sau trong ký ức nhạt màu
Vẫn đọng dấu tình đầu niềm kiêu hãnh.

Ánh sao sáng mắt anh sâu thăm thẳm
Ngày qua ngày sưởi ấm trái tim em.
Vần thơ này sẽ giữ nhịp mỗi đêm...
Thiên đường sáng trong em niềm khát vọng.

Ta hãy cố vượt qua vùng biển động.
Cho con đò lướt sóng nhẹ cõi mơ.
Để ánh trăng huyền ảo rọi vào thơ ,
Soi em suốt nẻo mờ đêm lạnh giá.

Cho em được cập vào bờ bến lạ ,
Thiên đường mờ mộng ảo chỉ đôi ta.
Để con Khuyên được cất tiếng thật thà.
Giọng lảnh lót ngợi ca niềm yêu mới.

Chim sẽ gáy tuyết giăng mùa đông tới.
Chim sẽ gù phượng mới thắp lửa hè.
Nhủ mùa thu thay sắc lá đam mê ,
Để xuân tới Én về chao lượn nhé !

Hãy thắp sáng cho đời nhau ngọn lửa.
Thắp đam mê bùng giữa những khát khao
Thổi nồng nàn chao đảo trái tim nhau.
Để hạnh phúc ngàn sau còn vọng lại.

Anh ! Hãy thắp sáng đời em mãi mãi.

---muaphonui---
 !