Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Bí quyết giúp nam giới 'yêu' khỏe hơn

Theo điều tra của Tạp chí Sức khoẻ đàn ông (Men’s Health) trung bình thời gian mà người đàn ông cần khi "yêu" là khoảng 5 đến 10 phút. Thời gian này khá “hẻo” với phụ nữ.

Giao tiếp với bạn tình để quan hệ tình dục trở nên có chất lượng hơn trở thành chìa khoá cho vấn đề này. Bạn có thể thử các biện pháp sau đây để có cuộc yêu thêm dài và chất lượng.

Kiểm soát sự xuất tinh

Sự xuất tinh quá sớm có thể tránh được nếu bạn rút “cậu nhỏ” ra khỏi vùng chiến sự nóng bỏng. Cách này có thể giảm lượng máu đổ về dương vật và giúp nam giới hoãn sự xuất tinh.

Luyện tập bằng việc thủ dâm

Khi thủ dâm, người đàn ông có thể luyện tập cách để yêu lâu hơn. Khi thủ dâm, thời gian chịu được là khoảng 10 phút trước khi xuất tinh. Thời gian này có thể tăng thêm bằng việc luyện tập. Cách này có thể điều chỉnh người đàn ông khi yêu, có nghĩa là thời gian xuất tinh được hoãn lại một vài phút. Đối với người có gia đình và quan hệ tình dục lành mạnh, hài hoà, thủ dâm để luyện tập khả năng trì hoãn sự xuất tinh không có hại.

Khúc dạo đầu lâu hơn

Đừng quá vội vã khi tiếp cận. Kéo dài thời gian của khúc dạo đầu có thể giúp người đàn ông duy trì được thời gian quan hệ tình dục lâu hơn.

Khúc dạo đầu "thủng thẳng" cũng khiến bạn giữ được sự cương cứng lâu hơn. Ảnh minh họa

Tiến hành luyện tập Kegel

Đàn ông cũng hoàn toàn có thể luyện kegel. Kegel có thể giúp họ điều khiển các cơ có chức năng điều tiết xuất tinh. Luyện tập kegel có thể tiến hành bằng việc nhịn tiểu một cách cố ý.

Kiểm soát việc tiếp cận

Kiểm soát chuyển động khi tiếp cận. Bạn sẽ khó giữ được việc xuất tinh sớm nếu chuyển động liên tục và mạnh mẽ. Do đó, kiểm soát sự tiếp cận có thể tiến hành đơn giản bằng cách tiến hành các động tác chậm hơn khi quan hệ tình dục.

Đa dạng hoá tư thế

Thay đổi tư thế thường xuyên khi quan hệ tình dục có thể giúp bạn kéo dài thời gian yêu. Một số tư thế nhất định nào đó có thể khiến cả hai cùng hưởng thụ tác dụng tích cực của tình dục, thế nhưng cũng giúp người đàn ông duy trì cuộc yêu dài dài.. Ví dụ như tư thế phụ nữ ở phía trên.
Thường xuyên yêu hơn

Thực hiện quan hệ tình dục thường xuyên hơn sẽ có thể đem lại cơ hội cho nam giới đào sâu khả năng của cơ thể. Khoảng cách giữa các lần quan hệ quá xa làm nam giới trở nên xuất tinh sớm hơn trong mỗi lần quan hệ.

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIỀN 1975 - 2011 (KÌ 82)





NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ



821 - Chung Thị Do

20 NĂM MẸ CÕNG CON ĐI HỌC

Nông dân sinh tại Tiền Giang. Sống ở TPHCM (2011).

Lấy chồng là bộ đội thương binh 51% nên sinh con trai đầu lòng năm 1987 bị nhiễm CĐDC từ cha bắt đầu từ 14 tháng tuổi đã xuất hiện triệu chứng bệnh lý 2 chân rất yếu đi đứng vô cùng khó khăn.



Năm con lên lớp 5 bệnh chuyển nặng làm 2 chân liệt luôn, tay cử động yếu ớt. Nhưng con vẫn ham học nên mẹ phải chiều con hàng ngày cõng con đi bộ 4km đến trường. Cứ thế đều đặn cõng con đi học THCS rồi THPT tốt nghiệp.



Năm 2009 con thi đại học đậu vào ĐH Khoa học tự nhiên TPHCM. Thế là bây giờ mẹ lại tiếp tục cuộc trường chinh cõng con đến trường trên hành trình dài hơn hẳn là phải đưa con lên trọ học ở TPHCM trong hoàn cảnh nhà nghèo, chồng tái phát bệnh thời chiến tranh và một con trai thứ hai cũng mắc bệnh gần giống anh mình.



Thầy dạy con cấp trung học cũ cảm thương đứng ra vận động thầy cô giúp đỡ tiền bạc cho 2 mẹ con lên thành phố. Nhưng đường đến trường nay diệu vợi hơn hẳn nơi đô thị đông đúc làm sao cõng nổi con đi học?



May mà được một mạnh thường quân cho một chiếc xe máy cũ để ngày ngày chở con đến trường rồi từ cổng trường mới cõng con lên phòng học trên lầu. Có khi tới lầu 2-3 cả 2 mẹ con té lăn gần xỉu luôn!



Trong khi con học thì mình tìm chỗ khuất ngồi làm gia công dán hộp quà tặng mỗi ngày được 30.000 đồng để phụ thêm cho con ăn học. Và cầu mong còn chồng con ở quê ráng chống chỏi chờ ngày con trai đầu học hành thành đạt quay về chứ “không tính gì được hết”.



822 - Đàng Thị Trang

NỮ FULRO 1

Dân thường sinh khoảng 1957 tại Ninh Thuận. Sống ở Ninh Thuận (1982).

Người dân tộc Chăm trước 1975 tham gia sinh hoạt tại Trung tâm Văn hóa Chàm ở Phan Rang, một trung tâm do Pháp thành lập và điều hành dưới danh nghĩa viện trợ cho chính quyền VNCH.



Gia đình có truyền thống theo cộng sản, mẹ hoạt động nằm vùng làm cán bộ phụ nữ xã, hai anh trai là liệt sĩ. Nhưng sau 1975 lại đi theo người tình là một lãnh thụ Chăm ly khai theo FULRO vào rừng lập chiến khu chống cộng sản. Tại đây sinh được 2 con.



Nhưng một thời gian sau phần vì con nhỏ không chịu nổi cảnh sống kham khổ trốn tránh trong vùng rừng thiêng nước độc, phần khác do chồng phụ bạc theo “nữ Fulro” khác nên tìm cách ôm con bỏ trốn. Bị chồng cũ biết được sai lính đuổi theo bắn bị thương may mà thoát chết chạy về nhà cha mẹ ở Phan Rang.



Ơ nhà mẹ tưởng chết rồi nên đã lập bàn thờ không ngờ nay vẫn còn con thêm cả cháu nữa. Liền đưa con ra khai báo trình diện chính quyền, được nhắc nhở rồi cho về.



Từ đó cố gắêng làm lại cuộc đời lấy chồng mới bạn học cũ sau khi chồng cũ đã bị bắt ở tù.



823 - Hồ Thị Điu

CHẠY TRÊN CÁT 80KM/NGÀY

Nông dân sinh 1950 tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2007).

Thương binh hạng 3 từng bị địch bắt giam tra tấn tàn nhẫn vẫn sống sót đến ngày hòa bình.

Trở về quê xã nghèo vùng cát trắng xã Triệu Lăng sát biển. Lấy chồng sinh được 5 con thì năm 1985 chồng đi biển gặp bão bỏ mạng trước sóng dữ.



Còn lại một mình phải nuôi 5 con và một mẹ già mắc bệnh thần kinh cũng do bị địch bắt tra tấn chấn thương đầu.



Quê nhà là vùng quê nghèo tơi tả vì chiến tranh tranh khốc liệt (550 hộ chiếm hơn 50% dân số thuộc diệïn gia đình chính sách, hơn 350 liệt sĩ, 250 thương bệnh binh…) chỉ còn biết theo nghề buôn cá để sống còn.



Thế là đều đặn hàng ngày từ 3 giờ sáng ra bờ biển chờ thuyền đánh cá về mua cá mực bỏ vào quang gánh rồi gánh… chạy tất ta tất tưởi lên chợ huyện cách đó 20km bán. Bán xong lại mua từ chợ một số hàng tạp hóa lẻ đến khoảng 7 giờ sáng thì gánh tất cả… chạy 20km nữa về làng bán lẻ. Nghỉ ngơi chút đỉnh đến 4 giờ chiều lại ra bờ biển ngóng tàu đánh cá về buổi chiều mua thêm đợt cá mực nữa để… tiếp tục chạy lên chợ huyện bán. Xong lại… chạy về chờ đến 3 giờ sáng hôm sau “bổn cũ soạn lại” hành trình gánh cá mực chạy như thế. Nên nhớ khi đem hàng lên chợ bán phải chạy nhanh hết sức – đuối sức té ngã cũng ráng gượng dậy… chạy tiếp - để cá tôm không bị ươn. Chuyên bán “hải sản” vậy mà bữa ăn cho mình chỉ toàn… rau! Để dành món ăn ngon bán lấy tiền lo con ăn học.



Tính ra cả ngày đã chạy khoảng 80km chia làm 4 đợt trên vùng đất toàn cát trắng cây cối đã chết rụi do bom đạn đổ xuống hàng hà sa số thời trước, lại thêm luồng gió Lào khô khốc nổi tiếng thổi qua từng đợt rát mặt biến nơi đây không khác gì sa mạc Châu Phi.



Dù vậy vẫn không quên ngày 2 lần – lần đầu và lần cuối ngày – trên đường đi đều ghé ngang thắp mộ chồng (ở đây mộ chôn trong cát chứ chôn đâu khác?) – cầu xin chồng phù hộ cho mình mãi mãi chân cứng đá mềm để nuôi con.



Hơn 20 năm thực hiện lộ trình chạy “việt dã cát” đều đặn như thế đã nuôi con ăn học thành tài. Bốn đứa đầu đều vào đại học, một đã tốt nghiệp ra đi làm.



824 - Hồ Thị Ngọc Hải

NGƯỜI KHÔNG CÓ 2 HÀM RĂNG

Sinh viên sinh tại Hà Tĩnh. Sống ở Hà Tĩnh (2011).

Mẹ từng làm giao liên cho cộng sản những năm 1972-74 tại Quảng Trị, sau 1975 lấy chồng là bộ đội phục viên về sống ở quê chồng Hà Tĩnh. Sinh 3 đứa con đầu đều bị nhiễm CĐDC dị dạng, dị tật chết ngay sau khi sinh.



May sao bản thân mình (và người anh kế) sinh sau vẫn sống được nhưng cứ bệnh tật liên miên, suốt một năm đầu sau khi sinh hầu như nằm viện suốt. Bao chứng bệnh quái ác ở đường khí quản bào mòn thân thể khiến cả 2 hàm răng đều hư hết (xương hàm quá yếu), mắt lồi lên!



Dù vậy ý chí ham học đã vực dậy nạn nhân bé nhỏ ốm yếu này, trở thành học sinh giỏi cấp THPT.



Năm 2007 tốt nghiệp phổ thông trung học chuẩn bị thi vào đại học ngành sư phạm với ước mơ làm cô giáo. Nhưng cô giáo mà không có… hàm răng thì dạy học trò sao đượïc thế nên cha mẹ cố gắng đưa con ra Hà Nội khám răng hy vọng được Nhà nước giúp đỡ. Bệnh viện sẵn sàng khám chữa miễn phí song làm 2 hàm răng giả hàng chục triệu đồng thì phải nhờ bảo hiểm y tế thôi. Kết quả bảo hiểm y tế trả lời… không chi!



May sao báo Tuổi Trẻ biết được viết bài kêu gọi nên được một nữ bác sĩ làm tư ở TPHCM giúp làm cho 2 hàm răng – trị giá trên 30 triệu đồng - không lấy tiền. Thế là “cô gái da cam” này có được 2 hàm răng trắng nuốt như ai!



Bây giờ đàng hoàng thi đậu vào ĐH Hà Tĩnh hệ cao đẳng sư phạm năm 2008 (năm trước chỉ dám thi vào ngành kế toán tài chính). Sau 3 năm theo học đầy cam go do cứ bệnh nghỉ học hoài những khi trái gió trở trời, giữa năm 2011 đã tốt nghiệp hy vọng sớm thành cô giáo dạy tiếng Anh.



825 – Hồ Thị Thanh Hòa

HAI VỢ CHỒNG CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

Công nhân về hưu sinh 1955 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở TPHCM (2007).

Năm 15 tuổi trốn nhà theo cộng sản đánh Mỹ, được đưa vào bộ đội làm nhiệm vụ mở đường trên chiến trường Trị – Thiên.



Năm 1971 bị B52 Mỹ thả bom đánh sập hầm chôn vùi 7 chị em trong tiểu đội, chỉ mình và một đồng đội sống sót. Nhưng bản thân bị chấn thương sọ não phải nằm viện nhiều tháng trời.



Ra viện được cho đi học một lớp văn nghệ xung kích rồi theo đội văn nghệ đi phục vụ tuyến đường Trường Sơn. Được 3 năm thì bệnh não tái phát nên được chuyển qua học làm y tá đưa về làm ở viện quân y để có điều kiện thuận tiện tiếp tục chữa trị bệnh đau đầu thường xuyên.



Kết thúc chiến tranh 1975 ra quân thương binh nặng hạng 1/4 được nhận vào làm xí nghiệp ở Bình Trị Thiên song thời này các cơ quan sản xuất không ổn định nên cứù phải thay đổi chỗ làm hoài.



Lấy chồng là bộ đội phục viên dân Quảng Bình sinh 3 con một gái 2 trai. Nhưng chồng bị nhiễm CĐDC và trùng hợp ngẫu nhiên là cũng từng bị chấn thương sọ não nên trong cuộc sống chung hai bên khi “lên cơn” thường xuyên va chạm, gây gổ vô cớ! Mâu thuẫn gia đình lên đỉnh điểm tới mức năm 1984 chồng bỏ về quê Quảng Bình để lại cả 4 mẹ con bơ vơ.



Thế là một mình nuôi 3 con trong tình cảnh bệnh sọ não không hết nên bị xí nghiệp cho nghỉ việc năm 1987. Đành phải làm công nhân quét dọn vệ sinh cho khách sạn, nhặt lon bia hộp giấy phế thải và cả cắt lá chuối đem đi bán lấy tiền lo con ăn học.



Vậy mà nuôi 3 con trưởng thành đàng hoàng, có con theo nghiệp cũ của mình làm nghề biên đạo múa. Phần mình nay đã thảnh thơi đôi chút trở lại tham gia các hoạt động văn nghệ quần chúng – cả sáng tác lẫn trình diễn hát, ngâm thơ, độc tấu -- hoài niệm một thời xuân sắc ca hát trên đường Trường Sơn.



826 - Hồ Văn Với

ÔNG CHỦ CHO MƯỢN… DÊ, BÒ

Nông dân sinh 1938 tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2008).

Bộ đội thương binh phục viên người dân tộc Pa Cô sau chiến tranh trở về quê ở vùng rừng núi A Lưới giáp giới Thừa Thiên – Huế.



Nhờ kiến thức học hỏi thời đi bộ đội nên biết cách xoay xở làm kinh tế mua vải đem qua Lào bán, đào mương dẫn nước về trồng lúa và cà phê, đào ao nuôi cá, nuôi bò nuôi dê… làm ăn khá giả nhất buôn làng.



Bản thân sống thoải mái rồi thì không nỡ nhìn cảnh bà con trong buôn làng cứ mãi nghèo khổ nên từ năm 1990 nảy sinh ra ý cho bà con “mượn” bò hay dê lấy vốn làm ăn, cho mượn “chay” tức không tính tiền lãi gì hết chỉ với điều kiện “nuôi nó làm sao sinh ra cả đàn dê thì trả lại để còn cho ngườøi khác mượn”!



Không chỉ giúp xóm giềng làm ăn mà còn giúp các đôi lứa thương nhau song nghèo quá không lấy nhau được do không kiếm được… đồ sinh lễ theo phong tục người Pa Cô nơi đây, thế là “xuất” ngay một con bò hay heo cho chú rể làm lễ với bên nhà gái.



Gặp những trường hợp người mượn quá khó khăn ngặt nghèo thì… tặng luôn! Với lý do đơn giản thôi: “Thấy dân mình nghèo khó thì ai chẳng buồn. Bà con đồng bào cả mà… Rồi có khi mình hay mấy đứa con trong nhà lâm cảnh hoạn nạn, đồng bào giúp lại mình thôi.”



827 - Huyền Linh

VỤ ÁN FATIMA BÌNH TRIỆU

Linh mục nhạc sĩ tên thật Nguyễn Huyền Linh sinh 1926 tại Nam Định – Mất 2003 ở Bình Phước (78 tuổi).

Di cư vào Nam 1954, tác giả một số bài thánh ca được nhiều tín đồ hâm mộ như “Ave Maria con chào Mẹ”, “Lời Mẹ nhắn nhủ”, “Ôi Giê su!”…



Năm 1977 liên quan đến vụ án Công giáo chống chế độ ở nhà thờ Fatima Bình Triệu – TPHCM nên bị đưa ra tòa xét xử lãnh án chung thân.



Năm 2001 bệnh nặng được đưa về TPHCM chữa trị, sau đó chuyển về giam ở Bình Phước rồi mất tại đây 2 năm sau.



Trong cảnh tù đày bệnh tật vẫn tiếc nuối không được tiếp tục con đường đem âm nhạc đến với niềm tin cho tín đồ:



“ Vét trong óc nhớ đôi bài nhạc



Từ thủa bình minh lắm gió mây.



Trên chín tầng cao xanh lả lướt



Như nghe nhồi máu tim say…”



828 - - Huỳnh Năm

KHÔNG BIẾT MẤT MỘT… QUẢ THẬN!

Thương binh sinh tại Quảng Nam. Sống ở Đà Lạt (2007).

Trong kháng chiến chống Mỹ là công an chiến đấu trên mặt trận Quảng – Đà.

Năm 1973 bị thương nặng được đưa về bệnh xá giải phẫu cứu chữa nằm viện 9 tháng, sau đó chuyển ra Bắc an dưỡng.



Năm 1977 xuất ngũ vào Lâm Đồng sinh sống. Khi làm chế độ thương binh 3/4 được giám định mức thương tật 31%. Nhưng thời gian qua thỉnh thoảng vẫn thấy vết thương cũ đau nhức nên năm 1991 đi giám định lại được nâng mức thương tật lên 56%.



Dù vậy cơ thể vẫn tiếp tục có dấu hiệu bất an, cuối cùng năm 2005 vào TPHCM khám kỹ hơn lúc đó mới té ngửa ra rằng từ hơn 30 năm nay mình chỉ còn… một quả thận, còn quả thận kia hẳn đã bị cắt đi khi được mổ cấp cứu trên chiến trường! Có lẽ do hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt, gấp gáp nên y bác sĩ… quên báo cho mình biết.



Bây giờ biết rồi muốn sửa lại y bạ để nâng mức thương tật lên bổ sung quyền lợi thương binh thì thủ tục hành chính thật không đơn giản chút nào!



829 -- Huỳnh Thị Ba

“TỈ PHÚ BA GÀ”

Doanh nhân sinh 1961 tại Đà Nẵng. Sống ở Đà Nẵng (2009).

Mồ côi cha – liệt sĩ chống Mỹ - từ nhỏ. Nhờ lý lịch nên sau 75 được vào làm kế toán cho một công ty ở Đà Nẵng.



Năm 1988 lấy chồng sinh ba con. Phải lo toan gánh nặng gia đình gặp thời bao cấp khó khăn kinh tế nên túng làm liều chiếm dụng tiền cơ quan hùn vốn đi buôn hàng cấm. Không may thất bại vỡ nợ bị bắt lãnh án 20 năm tù.



Trong thời gian ở tù chồng bỏ đi lấy vợ khác, con cái phải chạy về tá túc bên ngoại.



May mắn nhờ nhân thân liên hệ Cách mạng nên chỉ ở tù 5 năm thì được đặc xá năm 1997.



Trở về với 2 bàn tay trắng một mình nuôi 3 con và một mẹ già bằng nghề nuôi heo, có lúc không chỗ ở gần như phải sống chung với… heo (ở luôn trong kho đựng thức ăn cho heo)! Nhờ trời nuôi heo khá mát tay, lúc đầu nuôi 10 con sau phát triển lên 150 con rồi 500 con.



Sau đó còn chuyển qua nuôi gà cũng rất thành công kể cả trong cơn đại dịch cúm gà cuối năm 2004. Tên tuổi “Tỉ phú Ba gà” thành danh từ đó.





830 – Huỳnh Văn Hùng

ÁN OAN “NỘI GIÁN” 30 NĂM

Nông dân sinh 1941 tại Bến Tre. Sống ở Bến Tre (2009).

Thuộc gia đình cộng sản “nòi”, ông nội, cha và em trai là liệt sĩ thời chống Mỹ nên mới 10 tuổi đã đi làm liên lạc viên rồi thoát ly theo kháng chiến luôn. Làm trưởng công an xã rồi cán bộ an ninh huyện, bí thư xã Quới Sơn ở quê nhà BếnTre.



Thình lình tháng 2.1974 bị công an huyện bắt cùng với hai đồng đội đảng ủy viên với tội danh làm… nội gián cho địch!



Cả 3 bị đưa đi giam ở trại cải tạo tỉnh. Đến tháng 2.1977 – sau 3 năm 2 ngày ở tù - mới được thả ra không kèm theo bất cứ lý do, chỉ giải thích qua loa với cấp trên – qua văn bản – rằng các đương sự “chưa chịu nhận tội nhưng (công an) không có điều kiện xác minh”!



Ba người làm đơn đi kêu oan khắp nơi từ tỉnh ủy đến cả BanTổ chức Trung ương đều không kết quả. Hai đồng chí cùng chịu hàm oan đành bỏ cuộc về quê làm ruộng rồi chết sớm trong cảnh nghèo khổ, gia đình tan tác lại mang tiếng xấu “phản bội” khó lòng gột rửa.



Bản thân gia đình mình cũng rơi vào cảnh mâu thuẫn tận cùng tới chỗ cả vợ con cũng bức xúc vì dư luận dị nghị nên có lúc đã trách cứ mình là kẻ “phản cách mạng”, làm gián điệp bán đứng tổ tông (nên nhớ con cái 3 nhà này khi đi học hay đi làm đều bị địa phương chứng vào lý lịch “có cha là nội gián”)! Không thể chịu nổi cuối cùng đành ly dị vợ.



Bị đẩy đến bước đường cùng thê thảm như thế càng sôi sục ý chí tìm cách minh oan, phục hồi danh dự không chỉ cho mình mà còn cho cha ông dòng họ nữa: “Tôi từng mấy lần tính tự tử trong trại giam nhưng nghĩ lại nếu mình chết thì ai giải quyết cho mình? Chết tức là để tiếng xấu đến cả dòng họ, gia đình… Tôi phải sống để có ngày ngẩng mặt với đời…”



May sao năm 1966 gặp lại nữ đồng chí cũ là du kích cùng chi bộ hồi đó lúc này là cán bộ công an luôn tin tưởng thủ trưởng cũ của mình vô tội nên bà đã tìm cách nhờ công an Bến Tre và Mỹ Tho lật lại hồ sơ vụ án xem lại sự thật thế nào.



Cuối cùng phải lên tận TPHCM truy tìm tài liệu mật của tình báo chính quyền VNCH còn giữ lại trong kho hồ sơ của Bộ Công an mới dần tìm ra đường dây mối nhợ vụ án này. Đó là do mật vụ chế độ cũ dàn dựng để gây chia rẽ nội bộ cộng sản Bến Tre và công an Bến Tre thời đó nghiệp vụ còn sơ khai lại mắc bệnh cảnh giác quá độ “giết lầm còn hơn bỏ sót” nên đã bị sập bẫy!



Từ đó năm 2003 tỉnh ủy Bến Tre ký quyết định giải oan cho 3 “đồng chí mình” sau 30 năm mang án oan trong đó 2 người đã phải ngậm cười nơi chín suối lâu rồi.



Về cựu bí thư xã còn sống cũng có được một đoạn kết hạnh phúc thanh thản chắp nối cuộc đời với người nữ đồng đội trung thành năm xưa. Một kết cục “ân đền oán không trả” trùng hợp kỳ lạ bởi người vợ cuối đời an ủi tuổi già này có chồng trước (đã mất) chính là anh phó công an huyện đã ký lệnh… bắt người chồng bây giờ cách nay 30 năm!



(Còn tiếp)









Yêu Đơn Phương - Saka Trương Tuyền


Lời bài hát:

Tình yêu em trao anh sao cứ lặng thầm ,
Vì tình yêu trong em cứ mãi im lặng .
Nhìn anh vui, tim em càng yêu anh hơn .
Anh biết không tình yêu anh trao em sao lo lạng lùng
Tình đơn phương em mang sao mãi nghẹn ngào
Giot nước mắt rơi trong dêm khuya lạnh vì yêu anh , anh hiểu thấu .!

ĐK:
Yêu đơn phuong không nói thành lời tim em thương nhớ anh từng đêm .
Em luôn mong anh hãy nghĩ đến em chỉ một lần .
Để em không cô đơn mỗi khi đêm về .

Sao tim anh cứ mãi hững hờ
Cho con tim của em càng quặn đau .
Nếu có ứoc muốn trong cuộc đời ,
Để tinh yêu của em mãi trao người thôi…!!!

Nghe nhạc:

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

THƠ GIANG HỒ,NHƯ NHỮNG NGỌN GIÓ,KHÔNG NGỪNG PHIÊU LÃNG

"Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt

Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà"



Chẳng cần phải rà soát trong trí nhớ, nhiều người đã bật lên hai câu này mỗi khi chén thù chén tạc; lúc đắc chí vỗ đùi cười rơi nước mắt; khi một mình dạ hành nơi đất khách lạ xa…



Thơ của ai? Chẳng biết là thơ của ai. Chỉ biết rằng thơ hay quá, đọc lên nghe đã đời, sảng khoái cả tâm hồn, mà như một lời an ủi, ngọt dịu. Thơ ai vậy ta? Người đinh ninh thơ Nguyễn Bính. Kẻ đồ chừng thơ Nguyễn Duy. Có người lại "chắc cú" rằng thơ của Bùi Chí Vinh v.v… Thưa rằng chẳng phải. Người có hai câu thơ rất nổi tiếng trên "giang hồ" mà tên tuổi lại… hơi "mơ hồ" trên văn đàn đó chính là thi sĩ Phạm Hữu Quang quê Bắc Đuông, Thốt Nốt, Cần Thơ.



Phạm Hữu Quang sinh năm 1952, từng học Đại học Sư phạm với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh rồi chuyển về Đại học Cần Thơ. Ra trường, đi dạy vài ba năm rồi chuyển qua làm văn nghệ (Hội VHNT An Giang). Theo mô tả của nhà thơ Trần Hữu Dũng thì Phạm Hữu Quang có vóc người thấp đậm, râu ria xù xì như con gấu. Con người có bài thơ "Giang hồ" nghe "dữ dằn" vậy mà hiền khô, lại rất siêng làm thơ thiếu nhi. Bài thơ "Giang hồ", Phạm Hữu Quang viết tháng 5/1991. Anh mất ngày 28/4/2000, vừa đúng 49 tuổi (bốn chín chưa qua…).



Sau khi Phạm Hữu Quang mất, bạn bè thi hữu "kẻ góp của, người góp công" đã in cho anh một tập thơ có tên "Ngẫu hứng chiều sông Hậu". Nói cho đúng, thơ Phạm Hữu Quang không nhiều. Nhưng anh có bài "Giang hồ" quá xuất thần, dường như ai chỉ cần nghe đọc một lần là cũng có thể thuộc vài câu. Tất nhiên bài "Giang hồ" không chỉ có hai câu hay, mà còn có nhiều câu thấm thía, ví dụ:



"Giang hồ ba bữa buồn một bữa

Thấy núi thành sông biển hóa rừng…"



Ồ! Thì ra xưa nay, người rong ruổi giang hồ cũng không phải là hiếm, nhưng mới đi ba bữa đã sầu một bữa, quặn lòng mình để cho thơ lên ngôi thì cũng chỉ riêng thi sĩ thứ thiệt mới có. Thật ra, giang hồ - xê dịch - rong chơi; nó vừa là hành động vừa là ý niệm của người thơ. Dấn thân để được đi mãi trên con đường sáng tạo luôn là ước muốn lớn lao của những ai làm nghệ thuật. Nhà thơ Thế Lữ từng viết: "Ta là một khách chinh phu/ Dấn bước truân chuyên khắp hải hồ". Thấy chưa? Giang hồ, đâu phải chỉ "đã đời sông núi" riêng mình, mà đôi khi nó là sứ mệnh.



Bước chân giang hồ lắm khi cũng là định mệnh của không ít nhà thơ. Thi sĩ Nguyễn Bính có khá nhiều bài thơ thấm đượm cái phong vị của kẻ giang hồ thứ thiệt. Nhưng, có thể nói bài thơ "Hành phương Nam" của Nguyễn Bính được xem là một bài thơ giang hồ hay nhất, nổi tiếng nhất của ông. Nó như một cuốn "nhật ký" của thi sĩ trên đường lưu lạc vào phương Nam:



"… Ta đi nhưng biết về đâu chứ

Đã dấy phong yên khắp bốn trời

Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ

Uống say mà gọi thế nhân ơi!".



Ở chợ Đa Kao - Sài Gòn, năm 1943, Nguyễn Bính viết bài thơ này. Bây giờ đọc lại vẫn thấy hay, thấm thía một nỗi buồn. Còn gì buồn hơn là ngồi say giữa chợ? Giữa chốn đông mà nào có ai thân? Có một chi tiết trùng hợp khá thú vị là: Nguyễn Bính cũng mất năm 49 tuổi, bằng số tuổi mà Phạm Hữu Quang "tạm trú" trên cõi đời. Mất ở tuổi ấy, thường coi như là "chết yểu", nhưng kỳ lạ thay, thơ của họ lại có sức sống vượt thời gian.--



Thơ giang hồ, thường là kết quả của những chuyến xê dịch. Sau những cuộc rong ruổi thỏa chí tang bồng là một niềm thương nhớ da diết. Đi chỉ là một phương thức nhằm thay đổi bối cảnh, không gian sống, chứ cũng khó lòng mà thay đổi tâm trạng, số phận. Thi sĩ Đynh Trầm Ca có hai câu thơ giang hồ rất tuyệt:



"Giang hồ nào có ai phong ấn/

Mà cũng từ quan, trở lại quê".



Và, thi sĩ Linh Phương cũng từng cho "xuất xưởng" một bài thơ có tựa "Giang hồ" khá hay:



"Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận

Vẫn thấy lòng đau rứt ruột đau

Thèm nghe tiếng dế thời thơ ấu

Ngắm cánh diều bay giữa vô cùng".



Người ra đi bao giờ cũng mong được quay trở về. Xét cho cùng, sự trở về trọn vẹn nhất là trở về với hồn nhiên ấu thơ. Khi hồn ta còn tràn ngập tình thương trong sáng, khi đầu óc ta còn chưa mắc kẹt vào những dự án, toan tính bộn bề, mỏi mệt. Nhưng, làm sao quay ngược cây kim thời gian? Linh Phương thảng thốt:



"Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận

Thầm hẹn mai này qui cố hương

Ta về làm bạn cùng chim chóc

Lẫn với muỗi mòng chín cửa sông".



Có đôi người đọc bài thơ "Giang hồ" này thích quá, bèn gọi điện thoại hỏi tôi có biết tung tích của thi sĩ? Linh Phương là chị hay anh? Tôi không biết nhiều lắm. Nhưng chắc chắn một điều, thi sĩ Linh Phương đích thị là… đàn ông; hiện sống ở Rạch Giá - Kiên Giang.

Giang hồ. Ừ nhỉ! Tại sao không giang hồ? Có ai cấm ta giang hồ? Dù chỉ là giang hồ vặt. Nhưng nói đến giang hồ thứ thiệt "chính tông" thì phải nói đến thi sĩ Bùi Giáng. Cái giang hồ của Bùi Giáng không chỉ tính ở dặm dài xê dịch mà nó nằm ngay trong bản thể của thi sĩ. Ông "đi vắng" ngay cả khi ông tồn tại. Ông ở đây mà hồn ở đâu. Ông quên lãng ngay chính bản thân, chính tên tuổi mình:

"Hỏi tên rằng biển xanh dâu

Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa…".



Bùi Giáng rong chơi mải miết, rong chơi đến độ "quên cả đường đi lối về". Nhưng, trên con đường rong chơi của thi sĩ bao giờ cũng kè theo một "túi thơ" bên mình:

"Rong chơi râu tóc bạc phơ

Còn nghe đắm đuối vần thơ yêu người…".



Nói đến chuyện rong chơi của trung niên thi sĩ thì có lẽ còn nói… đến khuya. Người bảo Bùi Giáng điên. Kẻ nói Bùi Giáng nào điên, chỉ giả vờ. Người kêu Bùi Giáng loạn chữ. Kẻ nói Bùi Giáng "múa chữ" như làm xiếc v.v… Mỗi người mỗi ý. Nhưng rốt lại, Bùi Giáng vẫn là thi sĩ "một trăm phần trăm". Với thơ, ông chỉ định "đùa chơi" một tẹo. Nhưng rồi:

"Ta cứ ngỡ đùa vui trong chốc lát

Nào ngờ đâu đùa mãi đến điêu linh".



Thì đấy, "giang hồ muôn nẻo điêu linh". Giang hồ nào phải dành cho cho kẻ yếu bóng vía; ngán sóng, sợ gió. Nghe người giang hồ đã mê, đọc thơ giang hồ càng sướng. Thơ giang hồ còn nhiều. Trong một chốc, một lát; một buổi, một ngày không thể nào nhớ hết, liệt kê ra đầy đủ. Đó là chưa kể có nhiều bài thơ giang hồ còn nằm trong dân gian.



Thơ giang hồ như những ngọn gió không ngừng phiêu lãng. Thổi phóng túng vào tâm hồn những ai yêu thơ, yêu đời sống thiệt tình (!)





(http://vnca.cand.com.vn/">http://vnca.cand.com.vn/ )



PHẠM HỮU QUANG

GIANG HỒ



Tàu đi qua phố , tàu qua phố

Phố lạ mà quen ta giang hồ

Chẳng lẽ suốt ngày bên bếp vợ

Chẻ củi , trèo thang với … giặt đồ



Giang hồ đâu bận lo tiền túi

Ngày đi ta chỉ có tay không

Vợ con chẳng kịp chào xin lỗi

Mây trắng trời xa trắng cả lòng



Giang hồ ta ghé nhờ cơm bạn

Đũa lệch mâm suông cũng gọi tình

Gối trang sách cũ nằm nghĩ bụng

Cười xưa Dương Lễ với Lưu Bình



Giang Hồ có bữa ta ngồi quán

Quán vắng mà ta chửa chịu về

Cô chủ giả đò nghiêng ghế trống

Đếm thấy thừa ra một gốc si



Giang hồ mấy bận say như chết

Rượu sáng chưa thưa đã rượu chiều

Chí cốt cầm ra chai rượu cốt

Ừ . Thôi . Trời đất cứ liêu xiêu



Giang hồ ta chẳng hay áo rách

Sá gì chải lược với soi gương

Sáng nay mới hiểu mình tóc bạc

Chợt tiếng trẻ thưa ở bên đường



Giang hồ ba bữa buồn một bữa

Thấy núi thành sông biển hoá rừng

Chân sẵn dép giày trời sẵn gió

Ngựa về . Ta đứng . Bụi mù tung …



Giang hồ tay nải cầm chưa chắc

Hình như ta mới khóc hôm qua

Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt

Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà





LINH PHƯƠNG

GIANG HỒ



Giang hồ từ thuở ta thất thế

Chí lớn không thành- thà ẩn cư

Viễn xứ. Ờ ! Thôi thì viễn xứ

Hết đời phiêu bạt chốn quê xa



Mẹ xưa vốn quen mùi rơm rạ

Đốt đồng khô khói phủ che trời

Hoàng hôn mỏi mắt. Chiều châu thổ

Vẳng tiếng kêu đò bên bến sông



Cha xưa cầm súng ra đánh trận

Bỏ xác trên rừng mấy mươi năm

Lần đi đưa tiễn- tay chưa nắm

Vạt áo che ngang mẹ khóc thầm



Em xưa kẹp tóc thề vội lớn

Cứ ngỡ tình xanh mãi biếc xanh

Tương tư xếp lá đôi bờ mộng

Mơ bóng trăng khuya- tiếng nguyệt cầm



Ta xưa thắp nến chờ đêm xuống

Đợi hồn thiêng khuất nẻo cha về

Mộ bia hiu quạnh. Ngày dâu bể

Phách lạc đâu còn chỗ nương thân



Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận

Vẫn thấy lòng đau rứt ruột đau

Thèm nghe tiếng dế thời thơ ấu

Ngắm cánh diều bay giữa vô cùng



Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận

Thầm hẹn mai này quy cố hương

Ta về làm bạn cùng chim chóc

Lẫn với muỗi mòng chín cửa sông



NGUYỄN BÍNH

HÀNH PHƯƠNG NAM



Hai ta lưu lạc phương Nam này

Trải mấy mùa qua én nhạn bay

Xuân đến khắp trời, hoa rượu nở

Riêng ta với ngươi buồn vậy thay !



Lòng đắng sá gì non hớp rượu

Mà không uống cạn, mà không say ?

Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã

Mà áo khinh cừu không ai may



Ngươi giam chí lớn vòng cơm áo

Ta trói thân vào nợ nước mây

Ai biết thương nhau từ thuở trước

Bây giờ gặp nhau trong phút giây



Nợ tình chưa trả tròn một món

Sòng đời thua đến trắng hai tay

Quê nhà xa lắc xa lơ đó

Trông lại tha hồ mây trắng bay



Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc

Phân tán vì cơn gió bụi này

Ngươi đi buồn lắm mà không khóc

Mà vẫn cười qua chén rượu đầy



Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết

Ngày mai ra sao rồi hãy hay

Ngày mai sán lạn màu non nước

Cốt nhất làm sao tự buổi này



Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn

Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay

Hỡi ơi Nhiếp Chính mà băm mặt

Giữa chợ ai người khóc nhận thây



Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén

Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay ?

Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự

Hài cỏ gươm cuồng ta đi đây



Ta đi, nhưng biết về đâu chứ ?

Đã dấy phong yên lộng bốn trời

Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ,

Uống say mà gọi thế nhân ơi !



Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ

Ta với nhà ngươi cả tiếng cười

Người ơi ! Hề người ơi !

Người sang bên ấy sao mà lạnh

Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

TRĂNG ĐẤT KHÁCH - HOÀNG LỘC





alt

ta mấy ngàn đêm xa cố quán

từng đêm ta cũng đã mơ về

thấy em đứng với dòng sông trắng

cùng bóng sầu trên áo rất mây



thương khổ đời em không thể khác

mùa trăng con gái biệt tăm rồi

mối tình cứ phải ông trời buộc

mà giữ gìn nhau cũng hết hơi



ta đã nhiều năm trăng đất khách

vẫn ngang trời có bữa mây che

chỉ có lòng ta ôi chẳng khác

bởi tình em ngàn dặm theo soi...



8-2011

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011

THANH MUỘI - LÊ NGỌC THUẬN



Lỡ sa lầy trong trận đồ quá khứ

Một cuộc tình không có dấu vân tay

Ta yêu người như trèo lên lưng cọp

Không còn đường di tản để về đâu



Dăm ba chén hé lòng say ta nhớ

Thuở mà em còn tóc hát gió lay

Thuở cà phê linh thiêng hơn rượu lễ

Thuở em cười ngồn ngộn một vầng trăng



Chừ đôi môi đã quá hạn hết thời

Ta hôn liều dù không tình bảo chứng

Rượu chiều nay như cô gái lỡ thì

Ngồi trang điểm ngắm mình trong đơn độc



Tóc Vương phi đã man khai lý lịch

Buồn của ta phá sản tự bao giờ

Bao năm qua đầu xuôi đuôi không lọt

Đành nâng ly núp bóng từ bi



Ta học đòi người xưa ẩn dật

Lại bộn bề tong bếp lửa mưu sinh

Thôi thì kiết già mà yêu vậy

Thanh muội ơi! mưa có tự mây trời



Khu vườn đó rượu quỳnh không còn nữa

Gốc khế già rơi rớt giọt sương khuya

Em đâu biết ta đã từng lặng lẽ

Đốt thuốc đứng chờ bên con phố xưa



LNT

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

HỒI CHUÔNG TẮT LỬA VÀ CÁI NHÌN HIỀN TƯỢNG LUẬN - HUỲNH NHƯ PHƯƠNG





Thế Nguyên tên thật là Trần Gia Thoại, sinh năm 1942 tại Nam Định, mất năm 1989 tại TP. Hồ Chí Minh, nguyên là giám đốc nhà xuất bản Trình bầy, chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Trình bầy, nhật báo Làm dân; thư ký toà soạn các tạp chí Đất nước, Nghiên cứu văn học ở Sài Gòn trước 1975. Tác phẩm đã công bố: Hồi chuông tắt lửa, Nuôi con nhơn tình, Từ dưới vực sâu, Nghĩ gì (hai tập, ký bút danh Trần Trọng Phủ), Cho một ngày mai mơ ước. Dưới đây là bài viết cùa nhà phê bình văn học Huỳnh Như Phương về tác phẩm Hồi Chuông Tắt Lửa của ông



Hồi chuông tắt lửa là một cuốn truyện vừa của nhà văn Thế Nguyên hoàn thành tháng 8 năm 1963 và được công bố lần đầu ở Sài Gòn năm 1964. Theo chúng tôi, đây là một trong những tác phẩm văn xuôi đặc sắc ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975, nhưng chưa được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm thích đáng. Tác giả là một trí thức Công giáo khuynh tả chịu ảnh hưởng tư tưởng thần học giải phóng và một số quan niệm mỹ học phương Tây, trong đó có chủ nghĩa hiện sinh và hiện tượng luận, vốn được giới thiệu ở miền Nam vào những năm 60 thế kỷ trước như một lý thuyết mỹ học và một kỹ thuật miêu tả trong sáng tạo văn học.

Bài viết này bước đầu soi chiếu vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm Hồi chuông tắt lửa từ quan điểm hiện tượng luận của Husserl và Merleau-Ponty để phân tích cái nhìn và kỹ thuật miêu tả của nhà văn về vấn đề số phận con người với kinh nghiệm ở đời giữa những biến thiên của lịch sử dân tộc và tôn giáo. Vận dụng hiện tượng luận, trong trường hợp này, chúng tôi cũng muốn đào sâu ý nghĩa tiềm ẩn của tác phẩm từ sự phân tích của người đọc, theo tinh thần tác phẩm là đối tượng thẩm mỹ cho một ý thức tiếp nhận.



MỘT THẾ GIỚI ĐƯỢC TẠO DỰNG

Câu chuyện của Hồi chuông tắt lửa khởi đầu bằng việc nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” nhận lời mời của một vị linh mục tham gia giảng dạy cho một trường trung học mới mở trong một xứ đạo ở một vùng quê thời kháng chiến chống Pháp. Từ đây bắt đầu những kinh nghiệm tại thế với những quan hệ chính trị, tôn giáo, tình yêu và tính dục mà nhân vật đó trải qua trong tương giao với những con người ở xứ đạo.

Chính trong những ngày ấy, nhân vật xưng “tôi” đã lần lượt rơi vào những tình huống tưởng chừng như mê cung không lối thoát. Ở đó, anh ta đã trải qua hai cuộc tình thoáng qua với một cô gái quê và một cô giáo đồng nghiệp cùng trường. Cô giáo này là bạn thân của người em gái vị linh mục, cả hai đều từng ở trong một dòng tu và chứng kiến cái chết bí ẩn của một người nữ tu khác. Người em gái này về sau mang thai với M., một tu sĩ rời bỏ chủng viện để hoạt động chính trị bí mật, và đã từ trần vì sinh non.

Cuộc sống ở xứ đạo với nhà thờ và ngôi trường được sắp xếp ổn định dưới bàn tay của cha T. Các tu sĩ và tín đồ ngoan đạo làm tròn bổn phận của mình. Thầy giáo, cô giáo chu toàn nhiệm vụ dạy học. Học trò, trong đó có đứa con đỡ đầu của cha T. là thằng Ánh, học hành tiến bộ, cả về kiến thức lẫn đạo đức, vì “việc học là cần thiết, nhưng giáo dục không phải chỉ nguyên rèn luyện đầu óc cho thông thái”(2).

Có thể nói, trong ý định chủ quan của mình, cha T. có ý hướng tạo dựng một xứ đạo lành thánh, ở đó những thế hệ tín đồ kế thừa và tiếp nối truyền thống trong một cuộc sống hoà hợp. Điều mâu thuẫn là để đạt được mục đích ấy, cha T. đã phải che giấu những điều khuất tất, xoá vết những tội lỗi để khoả lấp những nghi ngờ của các giáo dân.

Thế giới tưởng chừng phẳng lặng đó ẩn chứa những cơn sóng ngầm chỉ chờ cơ hội là bùng nổ. Mối tình tay ba của những người đồng nghiệp dẫn đến xung đột giữa nhân vật “tôi” và K., ngay lúc anh này vừa đính hôn với cô giáo. Bầu không khí trở nên căng thẳng hơn nữa khi K. nghi ngờ rằng Ánh là kết quả mối quan hệ bí mật giữa cô giáo và cha T.

Đỉnh điểm của xung đột là khi có sự xuất hiện của M., người từng gây ra những vụ mưu sát tàn bạo trước đôi mắt kinh hoàng của các nạn nhân. M. gặp cha T. trong toan tính nhờ sự giúp đỡ của ông để trốn thoát khỏi vùng đất do những người kháng chiến kiểm soát. Theo kế hoạch được sắp xếp, ông Bô Khương, một tín đồ mất trí, bị đưa ra xét xử chỉ vì tội ăn cắp vặt, nhằm thu hút sự chú ý của mọi người tại phiên toà, để M. dễ bề tẩu thoát.

Nhưng M. không chịu ra đi một mình. Ông ta tìm cách tra vấn bí mật mà chỉ cha T. và cô giáo nắm rõ, để biết sự thật rằng thằng Ánh là đứa con của ông với cô giáo. M. cướp thằng Ánh trong tay cô giáo để xuống một con đò đang đợi sẵn ở bến sông. Bị người du kích phát hiện, M. chứng kiến viên đạn kết liễu cuộc đời của Ánh thay cho chính ông ta.

Toàn bộ câu chuyện được gói trọn chỉ trong 100 trang sách ngắn, in chữ cỡ lớn, từ từ mở ra một thế giới khép kín trong lòng một đất nước tao loạn. Đó là thế giới được tái hiện với những bí ẩn của nó, đồng thời cũng là một thế giới được tạo dựng dưới kỹ thuật miêu tả của nhà văn.

Theo hiện tượng luận, thế giới đã hình thành và ý thức của con người về thế giới cũng hình thành cùng một lúc với kinh nghiệm của ta, trong hiện hữu tại thế của ta(3). Merleau-Ponty viết: “Thế giới gắn liền với chủ thể mà chủ thể không gì khác hơn là dự phóng của thế giới, và chủ thể cũng không tách rời với thế giới do chính chủ thể dự phóng nên. Chủ thể là hữu thể tại thế còn thế giới luôn mang tính chủ thể”(4). Thế giới Hồi chuông tắt lửa đã được tạo dựng cùng lúc với ý thức của nhân vật xưng “tôi” hình thành trong kinh nghiệm mà anh ta thu thập được và tìm cách bày tỏ kinh nghiệm đó với tha nhân.

Cũng theo nhãn quan hiện tượng luận, sự phân tích và giải thích không quan trọng bằng sự miêu tả. Trong Hồi chuông tắt lửa, Thế Nguyên không sa vào phân tích tâm lý như tiểu thuyết có cốt truyện tình cảm, cũng không lý giải và định hướng cho người đọc như tiểu thuyết có cốt truyện giáo dục. Ông miêu tả hiện tượng như người ta bóc những lớp vỏ của một củ hành để từng bước chạm vào cái hạt nhân bí ẩn bị che giấu. Nhưng nhà tiểu thuyết cũng không có tham vọng của một nhà văn hiện thực chủ nghĩa, tin rằng cái tôi nghệ sĩ có khả năng khám phá bản chất và quy luật của đời sống như nó vốn có.

Hồi chuông tắt lửa thuộc khuynh hướng tiểu thuyết đề cao cái sống thực. Trong tác phẩm, yếu tính của sự vật không phải là cái gì tự nó mà chỉ bộc lộ ra trong quan hệ hỗ tương với ý thức. Ở đây có một nghịch lý thú vị này: một mặt, Hồi chuông tắt lửa không nhằm tái hiện một thực tại có sẵn mà là triển khai việc khám phá một sự thực; mặt khác cuốn tiểu thuyết giả định rằng cả tác giả lẫn người đọc, nói theo ngôn ngữ của Husserl, chỉ đạt tới và nắm bắt những hiện tượng trong thế giới của kinh nghiệm sống, chứ không thể nào vươn tớibản chất của nó. Thoạt nhìn, dường như đó là một bước lùi so với chủ nghĩa hiện thực, nhất là tác phẩm hiện thực qua tiêu điểm zéro, trong đó người trần thuật có điểm nhìn bên trên như điểm nhìn của Thượng đế đối với các nhân vật của mình, nhờ đó mà hiểu biết thông suốt tất cả mọi sự, khiến nhân vật không thể che giấu được điều gì, ngay cả những động cơ thầm kín của nó.

Thật không dễ chấp nhận với một số người khi nhận xét rằng một “chủ nghĩa hiện thực” nào đó có thể là biến tướng của thế giới quan duy tâm, khi mà thực tại được tái hiện chẳng khác nào một mô hình được cấu tạo theo chính tâm trí của con người. Càng không dễ chấp nhận khi nhận xét rằng hiện thực khả tín nhất không phải là “hiện thực mãn nguyện” mà là hiện thực chứa đựng những yếu tố hoài nghi. Về một khía cạnh nào đó, hiện tượng luận tỏ ra tôn trọng “hiện thực”, vì nó xoá bỏ định kiến cho rằng cái tôi là trung tâm của chân lý nội tại thay vì chỉ là một chủ thể gắn liền với thế giới.

Vậy thế giới đã được tạo dựng trong Hồi chuông tắt lửa như thế nào?

Đó là thế giới của những bí ẩn chồng lên bí ẩn. Bí ẩn trong gia đình của cha T., nơi có một người con gái mang hoang thai đã chôn vùi tuổi thanh xuân của mình trong tình yêu mù quáng. Bí ẩn trong cuộc đời chị Agnès, người nữ tu hoá điên khi đối mặt với cái bóng đen ngoài vườn tu viện. Bí ẩn trong mối quan hệ tay ba của cô giáo, nhân vật “tôi” và K. Bí ẩn trong lai lịch và hành tung của M., đảng viên Quốc dân đảng đang bị chính quyền kháng chiến truy lùng. Bí ẩn trong nguồn gốc và tính cách của thằng Ánh. Bí ẩn trong hành động và động cơ của cha T. Bí ẩn trong cuộc đời và số phận của Bô Khương. Bí ẩn về con vạc mồi của bõ Khản…



Nhưng bí ẩn không phải là bí ẩn tự nó. Bí ẩn bao giờ cũng nằm trong tương quan với một cá thể. Bí ẩn với người này có thể là điều dễ hiểu đối với người kia. Đồng thời, bí ẩn luôn có thể gây ra hoài nghi và ngộ nhận. Cốt truyện của Hồi chuông tắt lửa là cốt truyện của những hoài nghi và ngộ nhận được xâu chuỗi. Tác giả, thông qua điểm nhìn của người kể chuyện, lần lượt vén màn những bí ẩn đó và giải toả những ngộ nhận. Nhân vật người kể chuyện xưng “tôi”, với sự “giúp đỡ” của nhân vật K., đã dần dần chiếu những tia sáng mong manh vào thế giới mờ đục của câu chuyện Hồi chuông tắt lửa.

Hiện tượng luận quan niệm thế giới cũng như sinh hoạt tại thế của ta có tính chất mờ đục, không thể thấu hiểu. Thế giới mờ đục trước hết là vì thế giới bị che giấu: cả chị Agnès, cả người em gái của cha T. và cô giáo đều che giấu mối tình bi đát của mình trong câm lặng. Cha T. che giấu tấn thảm kịch của những người phụ nữ, đồng thời che giấu kẻ gây ra nguồn cơn của tấn thảm kịch đó, để tự mình nhận lấy sự kết án của K.

Thế giới là mờ đục, theo hiện tượng luận, còn vì con người chỉ có thể nhìn thấy một mặt nào đó của nó. Nói khác đi, thế giới không phải là một toàn thể mà là một trắc diện qua cái nhìn của mỗi người, trong từng tình huống cụ thể. Cho nên mờ đục gắn liền với đặc tính của thế giới. Nhưng bằng lối miêu tả hiện tượng luận cộng với thủ pháp “do thám” của tiểu thuyết điều tra hình sự, Thế Nguyên đã từng bước phơi bầy sự thật về thế giới và con người sau những tấm mặt nạ. Có thể nói Hồi chuông tắt lửa biểu hiện sự giằng co giữa quan niệm tiểu thuyết theo chủ nghĩa hiện thực và nhãn quan hiện tượng luận nơi Thế Nguyên.

Trong nhãn quan hiện tượng luận, tiểu thuyết là một phương thức “trở về với chính thế giới”, như lời kêu gọi của Husserl, và do đó tự đặt cho nó nhiệm vụ miêu tả sự vật và hiện tượng đã xuất hiện trong kinh nghiệm sống thực của chủ thể như thế nào. Muốn vậy, chủ thể phải xoá bỏ những thiên kiến, gạt bỏ những ảo tưởng. Thuật ngữ Reduktion của Husserl trong tiếng Đức, Réduction trong tiếng Pháp được Trần Thái Đỉnh dịch là “Giảm trừ”(5), Lê Tôn Nghiêm dịch là “Giản lược”(6), còn Phạm Công Thiện thì dịch là “Quy hồi”(7). Đằng sau sự khác biệt này, có thể tìm thấy một điểm kết nối: muốn “quy hồi” để thế-giới-tự-nó trở thành thế-giới-cho-ta, thì phải giảm trừ hay giản lược những định kiến về thế giới, “cho nó vào trong ngoặc đơn”.

Lịch sử văn học đã ghi nhận những hình mẫu có tính lý tưởng về “người tình nhân chung thuỷ”, “người cách mạng hy sinh”, “người tu sĩ đạo đức”; đồng thời cũng ghi nhận những nỗ lực “phá chấp” để có được cái nhìn trẻ thơ về thế giới khi nó xuất hiện lần đầu tiên trong kinh nghiệm sống của chủ thể. Trong Hiện tượng luận về tri giác, Merleau-Ponty nhìn nhận: “Không có gì khó bằng biết thực đúng cái ta nhìn”(8). Đây càng là một nỗ lực khó khăn trong bối cảnh của những đố kỵ và định kiến. Boccaccio, Rabelais… tầm cỡ như vậy mà đã không yên trong bối cảnh văn hoá Phục hưng nhiều cởi mở huống hồ Thế-Nguyên-tuổi-hai-mươi trong xã hội miền Nam đầy thù hận và cố chấp giữa những năm 60 thế kỷ trước…

Hiện tượng luận không chấp nhận kinh nghiệm do tri giác đem lại một cách đương nhiên mà không tìm hiểu, khám phá, sáng tạo. Kinh nghiệm và tri giác chính là kinh nghiệm và tri giác của tôi, do tôi và cho tôi. Và ngay khi tôi có kinh nghiệm về thế giới thì cùng một lúc tôi bừng tỉnh và phản tỉnh về thế giới. Đó là ý nghĩa của luận đề ý thức là ý thức về một đối tượng và đối tượng là đối tượng cho một ý thức. Kinh nghiệm về thế giới thay đổi phụ thuộc vào sự thay đổi của chính các hiện tượng, đồng thời với sự thay đổi của ý thức tôi về hiện tượng đó.

Nếu cha T., ông M. và những người kháng chiến có thể giữ một trạng thái tinh thần không suy suyển trước mọi sự thật vì họ là những người “cứng lòng tin”, thì những người như cô giáo, anh K. và nhân vật xưng “tôi” chắc chắn phải ít nhiều phản tỉnh trước tấn thảm kịch. Có điều Thế Nguyên không nhằm miêu tả sự phản tỉnh và chuyển biến về tâm lý đó, vì ông không đi theo cung cách miêu tả của tiểu thuyết truyền thống. Mặc dù không hẳn là chuyện-kể-hành-vi-luận, trong đó câu chuyện được kể lại bởi một người trần thuật biết ít hơn các nhân vật của mình, Hồi chuông tắt lửa đã giản lược sự phân tích tư tưởng và tình cảm của nhân vật. Tác giả kể một câu chuyện về đời người và người đời mà không truy tìm và cắt nghĩa động cơ của họ. Nhà văn miêu tả mà không lý giải khiến cho tác phẩm dường như treo lửng mọi phán đoán.

Thế nhưng, về phía những người đọc, chúng ta lại có nhu cầu cắt nghĩa thế giới và phán đoán những con người trong đó với những động cơ của họ. Hiện tượng luận không chủ trương giải thích thế giới nhưng lại mở cánh cửa cho những sự giải thích khác nhau về thế giới và gợi mở cho người đọc lấp đầy những khoảng trống của văn bản bằng sự tiếp nhận của mình.

Tóm lại, thế giới Hồi chuông tắt lửa là một thế giới tưởng chừng đạo đức, bình an, lành thánh ở một xứ đạo; đồng thời cũng là một thế giới che giấu những mưu mô, thủ đoạn, giả dối nên chỉ chờ cơ hội để bùng nổ. Vì vậy đó là một thế giới mờ đục, không thể thấu hiểu, con người chỉ có thể nhìn thấy một trắc diện của nó, nên dễ gây ra ngộ nhận. Tác giả miêu tả những hành vi ở bề mặt của nhân vật mà không đi sâu phân tích động cơ, tâm lý, cũng không lý giải và định hướng mà để người đọc tự mình phán xét.



MỘT THẾ GIỚI BỊ SỤP ĐỔ

Âm mưu của ông M., có sự giúp sức, vô tình hay hữu ý, của cha T., nhằm cướp đi đứa con với cô giáo – chính là thằng Ánh – trên đường trốn thoát, đã bất thành khi bị những người kháng chiến phát hiện. Viên đạn oan nghiệt đã cắm vào ngực thằng bé. Thế Nguyên viết trong đoạn cuối cuốn tiểu thuyết, khi xác Ánh được đưa từ con đò dưới bến sông về nhà thờ:

“Khi chúng tôi về tới cửa nhà nguyện, cuộc phụng vụ vừa xong. Cha T. còn quỳ lại sau hồi chuông tắt lửa. Bóng bõ Khản lênh khênh chụp cái bù đài lên từng ngọn nến. Ánh sáng leo lét nhỏ dần, chặt đôi gương mặt bõ. Mọi người lục tục rời hàng ghế. Khi thấy chúng tôi, họ dừng cả lại như bất động. Ngay lúc ấy một làn chớp loé lên. Bóng ông Bô Khương vụt hiện ra rất nhanh ngoài sân cỏ, mang hình ảnh cứu chuộc thê thảm trên đỉnh đồi Golgotha, đồng thời với một tiếng sét kinh hoàng. Tôi run rẩy bấu chặt tay vào bờ tường nhìn xác thằng Ánh xám ngắt loạng choạng trên tay ông M. Đầu cô giáo gục xuống, gương mặt hoàn toàn nằm trong bóng tối. Dư âm tiếng sét còn lại vang rền. Tôi nghe chừng cả một khoảng trời cao vừa sụp đổ…”(9).

Trong tác phẩm này, hồi chuông tắt lửa là hồi chuông cuối ngày thứ sáu tuần thánh, báo hiệu tất cả đèn nến trong giáo đường tắt dần để tưởng niệm ngày Chúa chịu nạn. Ngẫu nhiên, hồi chuông tắt lửa cũng trùng hợp với hồi chuông báo tử, cầu nguyện cho linh hồn bé nhỏ của Ánh.

Một thế giới được tạo dựng, với những sự thật được phát hiện của nó, đã nhanh chóng sụp đổ. Nhưng đây không phải là lần sụp đổ đầu tiên và duy nhất. Thế giới trong Hồi chuông tắt lửa đã sụp đổ từng mảng khi mà những hiện tượng được con người tri giác đã dẫn đến sự vỡ mộng; còn những tương giao đã biến con người thành những công cụ.

Thuộc vào dạng thứ nhất là trường hợp mối quan hệ của Bô Khương đối với người cha thiêng liêng: một lần chứng kiến hành vi bất nhẫn của vị cha cố đỡ đầu, ông đã rời bỏ nhà dòng, rơi vào khủng hoảng và mắc bệnh tâm thần, trở thành kẻ “ném đá” vào thế gian theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Đó cũng là trường hợp ông M. hiện ra vừa như thủ lãnh một nhóm hoạt động bí mật, vừa như một Don Juan thời hiện đại. Con người có hành tung bí ẩn nhưng cũng có sức hấp dẫn của một người đàn ông táo bạo đó là nguồn cơn tấn thảm kịch của cả ba người phụ nữ: Agnès, em gái cha T. và cô giáo. Ba người phụ nữ này, nói cho cùng, cũng chỉ là phương tiện của M.

Việc Agnès đem vá chằng chịt những mụn vải nhỏ lên bộ áo dòng khi còn lành lặn không phải là một trò chơi vô nghĩa. Khi chia sẻ trọn vẹn cái bí mật của hai người bạn tu, cô giáo đã phát hiện ra bộ mặt thật của một con người và cũng là của một thế giới:

“Đôi khi tôi đã nghĩ rằng không được làm “thánh” thực đáng buồn. Nhưng rồi bản thân va chạm với thánh thần, chia sẻ cái gia tài giả dối, lường đảo, phụ bạc trắng trợn của chính bậc tu hành, tôi mới sáng mắt ra mà nhận thấy rằng chỉ làm “thánh” thôi, chỉ làm “thánh” dưới mắt kẻ chung quanh thôi mới thực là đáng nản”(10).

Thuộc vào dạng thứ hai là quan hệ giữa K. và nhân vật xưng “tôi” với Hạnh, một người con gái quê thật thà, dễ bị lợi dụng. Đứng về phương diện luân lý, việc cha T. triệu tập đám đông tín hữu trong buổi lễ để làm bình phong cho M. trốn thoát, vô hình trung cũng xem họ như là công cụ.

Thật ra, những nhân vật của Hồi chuông tắt lửa không phải không có ý hướng và nỗ lực đi tìm và xây dựng những mối tương giao nhân bản. Thoạt đầu, giữa nhân vật xưng “tôi” và cô giáo đã tìm thấy một sự đồng cảm trong tình cảnh của những người ở dưới vực sâu:

“Người ta có thể xuống tới nhiều chặng thất vọng khác nhau. Riêng tôi, đứng ở nấc thang chót bắc xuống vực tuyệt vọng, thấy ông quơ tay tìm tòi dưới đáy vực, ngại gì một víu tay đối với ông. Chúng ta đã tới đáy: sự thực không có gì lạ ngoài cô đơn và lạnh lẽo!”(11).

Không phải ngẫu nhiên mà người đàn bà này có thể viết cho người-tình-một-đêm của mình lá thư để trút hết uẩn khúc của lòng mình:

“Chia sẻ trọn vẹn sự bí mật đời tôi đối với ông, tôi không cảm thấy mất mát điều gì. Trái lại nỗi cô đơn của lòng tôi như một vết dầu. Đã từ lâu, vết dầu đó cứ lần lần thấm sâu vào từng ngõ ngách trong cơ thể tôi. Đã từ lâu tôi đi trong đêm tối như một người tù ánh sáng. Đã từ lâu tôi không còn thấy hoả ngục nơi người khác: Tôi đã gặp nó ngay trong nỗi cô đơn của hồn tôi. Ông cũng vậy, phải không ông?

“Vậy thì, câu chuyện kể trong đêm giữa hai người tù ánh sáng vẫn còn mang nguyên vẹn sự bí mật tuyệt vọng của nó…”(12).

Hai chủ đề “Con người bị kết án phải cô đơn” và “Hoả ngục chính là kẻ khác” trong tác phẩm Jean-Paul Sartre đã được kết hợp trong một cảnh ngộ, qua một lời tự bạch. Tại sao gọi đây là “sự bí mật tuyệt vọng”? Phải chăng bởi vì đây là bí mật không thể hoá giải, và nếu bí mật được hoá giải có nghĩa là một thế giới sẽ sụp đổ.

Lần đầu tiên hình ảnh về màu lửa cháy báo hiệu cho sự hủy diệt đã xuất hiện ngay từ cuối chương hai của cuốn tiểu thuyết:

“Lúc tôi đọc xong lá thư của cô giáo, mặt trời đã đổ dưới rặng tre và buổi chiều là cả một đám cháy. Đám cháy ấy đang chuyển màu trước mắt tôi: từ đỏ thẫm, xám, lẩn màu cứt sắt. Thế rồi cái đám tàn tro kia bay mịt mù lên không gian, phủ kín bầu trời quang đãng. Đột nhiên trong một phút, toàn thân tôi chết cứng, tay chân không thể nào co ruỗi được như thể có một thứ băng giá nào đã làm tê liệt các động mạch”(13).

Cô giáo không phải là người muốn tạo ra đám cháy. Cô vẫn muốn nuôi giữ bí mật, có thể vì đó là kỷ niệm thiêng liêng của cô, cũng có thể vì cô không muốn nó cản trở con đường trở về cuộc sống bình thường trong quan hệ với K. Cô tin vào sự dàn xếp của cha T. sẽ giúp cô thoát khỏi tình trạng hiểm nghèo hiện tại.

Nhưng cái giá mà cô giáo, cha T. và cả M. phải trả cho những toan tính của mình thật quá đắt. Chính họ đã đẩy thằng Ánh vào tâm điểm của xung đột. Ánh vừa là đầu mối kết nối hai cực của một thế giới, vừa là tiêu điểm tranh chấp của hai cực đó: một cực là mưu mô, thủ đoạn; một cực là cả tin, ngờ nghệch. Khi điểm kết nối này bị phá hủy, và thế giới không còn đặt nền tảng trên những tương giao nhân bản mà là nguồn cơn của “kinh sợ và bàng hoàng”, thì thế giới ấy phải sụp đổ.

Tóm lại, thế giới Hồi chuông tắt lửa đã sụp đổ vì đặt trên nền tảng của sự giả tạo và giả dối, vì những thiên kiến và ngộ nhận không thể hoá giải. Thế giới bị sụp đổ còn vì thiếu những tương giao nhân bản, con người không phải là mục đích cao nhất mà là phương tiện của nhau. Cuối cùng, thế giới phải sụp đổ vì những mặt nạ lần lượt bị bóc trần và bi đát thay, vì cái ác, sự sa đọa không bị trừng phạt mà sự ngây thơ, vô tội bị huỷ diệt thay cho cái ác.



MỘT THẾ GIỚI ĐƯỢC CỨU CHUỘC

Trong một bài viết về Hồi chuông tắt lửa ngay sau khi tác phẩm ra đời và nhận được sự hồi đáp không mấy thuận lợi của độc giả, Nguyễn Văn Trung rất nhạy cảm khi nói đến chủ đề cứu chuộc của tác phẩm: “Tôi có cảm tưởng là tác giả muốn thể hiện một ý tưởng thần học về sự “cứu chuộc” qua hai nhân vật: Bô Khương và đặc biệt là linh mục T.”(14). Sự hy sinh của Bô Khương được nhìn nhận như “một sự “cứu chuộc” vô ý thức vì nạn nhân không biết được ý nghĩa việc làm của mình. Bô Khương gợi lên hình ảnh con chiên trong sạch bị hy sinh để đền tội cho mọi người trong Cựu ước”(15).

Không phải ngẫu nhiên mà Thế Nguyên đưa vào văn bản thiên truyện đoạn sách Thánh, qua giọng đọc của thầy già xứ, nói về việc dân chúng Israel mỗi nhà hiến một con chiên hay một con dê để ăn thịt trong ngày Chúa vượt qua. Cũng chính tác giả ghi chú thích ở cuối trang thay cho nhà xuất bản:

“Theo Cựu ước, lễ ăn thịt chiên là để kỷ niệm ngày giải phóng dân Israel ra khỏi ách nô lệ Ai Cập. Đằng khác, việc hiến dâng còn mang ý nghĩa như một sự Cứu chuộc, một bí tích: mọi tội ác của người ta sẽ đổ lên đầu con chiên đực trong sạch kia và khi con vật được thiêu huỷ đi, nó mang luôn theo tất cả những vết tích nhơ bẩn đó”(16).

Ý tứ ở đây gắn liền với sự hy sinh của hình tượng Bô Khương, bị mấy đứa học trò thủ vai quân Du-dêu lùng bắt ngoài chợ, vậy là đã rõ.

Theo Nguyễn Văn Trung, trái với sự hy sinh mà không biết mình hy sinh của Bô Khương là thái độ hy sinh có ý thức và có chủ tâm của cha T. Nhà phê bình viết:

“Thằng Ánh là kết quả của những oan trái, tội lỗi và cái chết vô tội của nó càng nói lên sự oan trái, tình cảnh tội lỗi của những con người. Nhưng sự có mặt của nó cũng như những hành động của cô giáo là yếu tố đưa đến ngộ nhậnmà cha T. sẽ phải chịu đựng, một sự chịu đựng có ý thức biết trước, cố ý, vì muốn đảm nhiệm một thái độ linh mục đích thực giống thái độ của Chúa Kitô trên thánh giá: gánh lấy những tội lỗi, oan trái của cuộc đời […].

“Chỉ mình cha T. nắm những bí mật của một cuộc đời đó dù biết có thể bị hiểu nhầm và sẽ phải chịu đựng những đau khổ vì sự hiểu nhầm đó, một hiểu nhầm đụng tới chính điều làm cho chức linh mục được tôn kính là đức trinh khiết. Thật cao cả biết bao thái độ của cha T. trước những lời tố cáo của K. Ngài không oán giận mà còn tha thứ, cầu nguyện cho những người hiểu nhầm mình. Ngài cũng không phán đoán họ vì phải chăng phán đoán là kết án và bao giờ cũng là sai lầm khi phê phán đụng tới những lý do thuộc về lương tâm của một người. Đó cũng là thái độ của Chúa Yêsu trên thánh giá đối với những kẻ đóng đinh Ngài”(17).

Mặc dù chia sẻ phần nào sự đánh giá của Nguyễn Văn Trung đối với những thiện ý của nhân vật T., chúng tôi cho rằng xét cho cùng thì cha T. vẫn không phải là biểu tượng của sự cứu chuộc trong Hồi chuông tắt lửa. T. không phải là người duy nhất nắm giữ những bí mật của M., cũng không phải là người biết rõ tất cả mặt trái của M., so với cô giáo. Nhưng trước một con người mà ông biết là sa đọa, liệu lương tâm ông có yên ổn khi ông không tỏ ra một biểu hiện nào để ngăn cản tội ác. Dù việc M. cướp thằng Ánh trên tay cô giáo dẫn đến cái chết thảm khốc của nó là việc ngoài ý muốn mà T. không lường trước, nhưng ông vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm về tấn thảm kịch ấy.

Tuy vậy, đó chưa phải là lý do chủ yếu để ta đặt dấu hỏi về “đức trinh khiết” của cha T. Điều chủ yếu khiến ta đặt dấu hỏi về điều đó chính là thái độ của cha T. trong quan hệ với Bô Khương. Phải chăng Bô Khương cũng chỉ là một phương tiện trong những toan tính của cha T.? Việc Bô phải đền tội cho người khác trong ngày thứ sáu tuần thánh phải chăng cũng là một vở kịch nhằm che đậy một âm mưu chính trị dưới lớp vỏ tôn giáo? Và như vậy, phải chăng chủ đề “cứu chuộc” đã bị nhìn nhận trái với tinh thần nhân bản?

Chính vì vậy mà theo chúng tôi, biểu tượng của sự cứu chuộc trong Hồi chuông tắt lửa không phải là Bô Khương, càng không phải là cha T. Biểu tượng đó chính là Ánh, dù thằng bé chưa ý thức đầy đủ về số phận của mình, càng không thể tự cắt nghĩa về cái sống và cái chết của mình. Ánh chính là biểu tượng của “đức trinh khiết” mà tất cả người lớn có thể soi vào. Ánh đã làm vật hiến tế cho những toan tính của người lớn. Nó phải trả món nợ tinh thần cho những kẻ đã tạo ra hình hài và linh hồn nó bằng chính mạng sống của nó. Cái chết của Ánh vừa như một phi lý của hiện sinh, vừa có ý nghĩa như một cứu rỗi cho những tội ác, sa đọa của người lớn.

Một chi tiết có sức ám ảnh là hình ảnh con búp bê bằng len thắt nơ đỏ mà Agnès để lại đã làm chứng cho tấn bi kịch của người bạn gái cô giáo và rồi của chính cô. Có thể xem Ánh là hoá thân của con búp bê mà ba người phụ nữ cả tin này muốn sở hữu cho riêng mình. Đứa bé có tật hay ngủ gục và học hành chểnh mảng đó thật ra là một “thiên sứ” mà Thượng đế gửi xuống để cứu chuộc cho những kiếp người tội lỗi.

Có thể nói Hồi chuông tắt lửa là một tác phẩmpha trộn chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện sinh và kỹ thuật miêu tả hiện tượng luận.Sự pha trộn đóthể hiện sự giằng co trong tâm thức của bản thân tác giả. Trên hành trình tư tưởng và trong sáng tác nghệ thuật, Thế Nguyên đã tìm đến hiện tượng luận như một sự hoà giải giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện sinh, rồi từ hiện tượng luận về hiện sinh đi tới một hiện tượng luận về xã hội, nhưng thời cuộc không cho phép ông đi đến cùng chọn lựa nghệ thuật của mình. Càng về sau, nhà văn càng mạnh mẽ phê phán những biểu hiện của điều mà ông gọi là “tính chất sì-nốp-bít” (thói học đòi làm sang) của xã hội miền Nam(18). Ông bài bác thứ “văn chương hiện sinh” theo đuôi, làm dáng, đồng thời đề cao văn chương hiện sinh dấn thân, trong đó con người phản tỉnh về thân phận của mình, thông qua những kinh nghiệm sống trong một hoàn cảnh cực đoan của đất nước. Hoạt động thực tiễn tạo điều kiện cho Thế Nguyên tìm thấy ở phong trào dân tộc một điểm kết nối giữa tinh thần xã hội và đức tin Kitô giáo.

Nhưng rồi chính Hồi chuông tắt lửa và tác giả của nó cũng không tìm được sự dung hợp và chỗ đứng trong lịch sử. Nhà văn đã chịu chung thân phận với nhân vật của mình, thân phận con người ở “giữa hai làn đạn”.



HUỲNH NHƯ PHƯƠNG



Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5, tháng 5-2011.

_________________



(2), (9), (10), (11), (12), (13), (17) Thế Nguyên: Hồi chuông tắt lửa, in lần thứ ba, NXB Trình bầy, Sài Gòn, 1969, tr.8, 107, 34, 28, 35, 36, 96. Có tham khảo bản in Hồi chuông tắt lửa trên tập san Văn, số 6, Sài Gòn, ngày 15-3-1964.

(3), (5), (8) Trần Thái Đỉnh: Hiện tượng học là gì? NXB Hướng mới, Sài Gòn, 1968, tr. 99, 61, 29.

(4) Merleau-Ponty: Phénoménologie de la perception, Gallimard, Paris, 1945, tr.491.

(6) Lê Tôn Nghiêm: Môi trường tiên nghiệm trong hiện tượng học Husserl về cuối đời, Tạp chí Tư tưởng, bộ mới số 1, Sài Gòn, ngày 01-6-1969, tr.83.

(7) Phạm Công Thiện: Hiện tượng học về hiện tượng học của Husserl, Tạp chí Tư tưởng, bộ mới số 1, Sài Gòn, ngày 01-6-1969, tr.24.

(14), (15), (16) Nguyễn Văn Trung: Hồi chuông tắt lửa, trong sách Nhận định, tập VI, NXB Nam sơn, Sài Gòn, 1972, tr.267, 268. Bài viết này đã từng được NXB Nam sơn in kèm theo sách Hồi chuông tắt lửa để “thanh minh” cho Thế Nguyên.

(18) Thế Nguyên: Nghĩ về “văn chương hiện sinh” hay là tính chất “sì-nốp-bít” của xã hội miền Nam, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6, Sài Gòn, 1968, tr.85.









Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2011

LỜI BÌNH TẬP THƠ "LẼ NÀO EM" HÀN PHONG VŨ CỦA NGUYỄN TRÍ HIẾU

LỜI BÌNH TẬP THƠ "LẼ NÀO EM" HÀN PHONG VŨ CỦA NGUYỄN TRÍ HIẾU


 Bút danh: Hàn Phong Vũ, Ngọc Lâm
Tên Thật: Nguyễn văn Lâm

Sinh: 19/05/1985
Nguyên quán: Thanh Hóa
Trú quán: Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh
Có nhiều thơ đăng và giới thiệu trên các Website, diễn đàn thơ văn như: vanthoviet.com ; dadung.com ;  vanghenamdinh.com ; vnthidan.net  ; lalanhdumlarachvn.wordpress.com  ;  thuhoiquan.net...
Tác phẩm đã xuất bản:
-In chung: Tuyển thơ Văn Thơ Việt Tập 2 -NXB Văn Học 2011
-In riêng: Lẽ Nào Em - NXB Thanh Niên 2011
*
Có người đã hỏi tôi: "Con người sinh ra để làm gì, phải chăng là để trải những cay đắng của dòng đời nghiệt ngã". Qủa thật, tôi không thể trả lời được câu hỏi này. Và, tôi biết, có những người sinh ra trong một gia đình giầu có và đầy đủ, có được tình thương trọn vẹn của các thành viên trong gia đình, được sự yêu thương và dạy dỗ ân cần của cả mẹ lẫn cha. Nhưng cuộc đời của những người ấy vẫn phải vướng vào những đắng cay, và sầu đau. Có thể, Thượng đế muốn ta trưởng thành hơn, cho nên mới cho vào cuộc đời của chúng ta sóng bão. Chúng ta làm sao phải vượt qua giữa những mất mát hy sinh, cuốn hút của quyền uy, tiền bạc, vượt qua được thác ghềnh của bệnh tật, đau đớn thân xác, tâm hồn...
Hàn Phong Vũ là người như vậy. Một nhà thơ với bao nhiêu bất hạnh của cuộc đời. Sinh ra là người lành lặn, và có đủ cha lẫn mẹ. Anh đã may mắn được hưởng sự ấm cúng của gia đình so với những người khuyết tật khác. Nhưng không may năm 2003, Hàn Phong Vũ đỗ đại học sư phạm, khoa văn. Dường như đó là một ngọn lửa nhen nhói trong cuộc đời anh, nó đang chuẩn bị rực cháy, để biến cái ước mơ của anh trở thành hiện thực. Nhưng cuối năm 2004, Hàn Phong Vũ không may bị một tai nạn giao thông, làm cho anh liệt tứ chi, phải ngồi xe lăn mãi mãi...
Nhưng anh luôn tâm niệm trong mình " tàn nhưng không phế", anh đã biết được những con người mà mình đáng phải học như cô bé Thương Thương (Đống Đa - Hà Nôi), Huỳnh Thanh Thảo ( Củ Chi- Hồ Chí Minh)...
Hàn Phong Vũ đã tìm đến thơ, như gửi gắm những ước mơ không thực hiện được của mình. Và, trong anh vẫn nung nấu, một ngày kia, anh sẽ cống hiến nhiều hơn cho đất nước.
Thơ của Hàn Phong Vũ, nhiều khi là niềm vui nhỏ bé, lúc thì là nỗi buồn của sự cô đơn, nỗi nhớ quê, nhớ người da diết.
Anh đã cảm thông với cuộc đời, của những người bạn mình đang sống cùng:
"Sinh ra đã không còn cha mẹ
Vào đời bằng hai chữ mồ côi
Em lớn lên trong tình thương của đất
Và bao dung rộng lượng của trời."
(Cần một tình thương)
Từ những câu thơ trên, ta hiểu hơn về Hàn Phong Vũ. Cuộc đời cũng chẳng hơn gì những người khuyết tật khác, nhưng anh vẫn đem theo một hy vọng, không muốn dập tắt: "Xin hãy nhủ lòng xót thương, dù nhỏ/ Cho em một hy vọng êm đềm" (Cần một tình thương). Và, khi tìm được tình thương của con người, thì anh đã thốt lên: "Được người cho sống nương thân/ Ta như được sống lại lần thứ hai" (Cảm tác đời tôi). Dù cuộc đời thế nào, anh vẫn sống, vẫn làm thơ, vẫn "khao khát vô bờ... khát khao".
Chính Hàn Phong Vũ đã trải đủ các màu vị của cuộc đời, nên anh già hơn với tuổi của mình chăng. Lòng bao dung nhân ái với thiên nhiên đất, trời, với con người. Thơ thì lúc đòi sự bình yên, thơ thì lúc mãnh liệt sống và cống hiến. Với, những suy ngẫm của cuộc đời, anh chẳng giành gì cả. Anh không chê cái kiếp số của mình:
"Giàu sang người ở thị thành
Tôi nghèo khó, tôi thanh bần với quê
Dẫu cho ai ghét, ai chê
Thì tôi vẫn sống hả hê vui cười.
( Người nghèo nói)
Và, anh cũng suy nghĩa đến thân phận của mình. Nhân gian này, có ai thương xót anh không:
"Nếu mai ta chết đi rồi
Trên đời biết, có ai người khóc ta
Hồn lìa khỏi xác bay ra
Ai người thương xót, nhỏ ta giọt sầu...
(Nếu mai)
Đọc câu thơ ấy tôi lại liên tưởng đến Nguyễn Du đã từng thương xót tiểu Thanh trong tác phẩm "Đọc tiểu Thanh kí", hay của Tố Hữu đã từng thương xót Nguyễn Du trong tác phẩm "Kính gửi cụ Nguyễn Du: "Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du/ Tiếng thơ như tiếng mẹ ru những ngày".
Rồi cái nỗi nhớ cứ tha thiết, phập phồng trong anh, khi nghĩ về quê hương:
"Xứ Thanh ơi! Sao mà thương nhớ
Bao năm rồi ta đã xa quê
Xa bạn bè, thầy cô yêu dấu
Xa một thời kí ức tuổi thơ ngây."
Hay
"Xa cái tết, tình quê hương ấm áp
Những xuân hè náo nức cả hồn cây"
(Xứ Thanh ơi)
Với, thân thể không còn như xưa (liệt tứ chi), anh không thể về quê được. Với lại, sinh hoạt phí của anh cũng không phải hoàn toàn là tiền anh kiếm được, nên muốn một chuyến tàu về quê cũng khó lắm. Sống trong thành phố Hồ Chí Minh, anh đã quen với nhiều bạn cùng cảnh ngộ. Rồi những buổi họp mặt những bạn thơ, anh đã quen biết được nhiều người. Những cuộc vui nào cũng phải có hồi kết thúc. Những con người lại rời xa anh, về với cuộc sống thường ngày, với công việc, thoảng mới được lời hỏi thăm qua điện thoại. Và, Hàn Phong Vũ phải tự hỏi: Đến bao giờ mới gặp lại họ. Nếu như lành lặn, anh có thể hẹn gặp họ ở nhà riêng, cơ quan, hay ở quán cà phê nào đó. Nhưng với anh bây giờ, điều đó không thể thực hiện được. Đến sinh hoạt của anh, nhiều khi vẫn cần những bàn tay của người khác giúp đỡ. Vì thế nỗi nhớ trong thơ Hàn Phong Vũ rất nhiều: "Đêm nay đầy một đơn côi/ Đầy một nỗi nhớ thương người... ngày xưa!" (Chiều đông nhớ người).
Là một con người, anh cũng biết yêu, và cái tình yêu của anh lại cực kỳ trong sáng. Nhưng dường như, tình yêu của Hàn Phong Vũ thường mang một nỗi buồn, như không thành. Nhiều khi, tôi đọc những bài thơ tình yêu của anh, cảm nhận như nhân vật anh yêu, đã ra đi mãi mãi, đã mất rồi, hay đã có nơi, có chốn:
"Em giờ bước lạc về đâu/ Có còn nhung nhớ tình đầu đôi ta?" hay "Hồn anh chợt tỉnh, chợt say/ Nhớ em... đêm vắng đắng cay một mình" (Mưa nhớ em)
Nhưng dù là không thuận trong tình yêu, âu cũng bởi kiếp số. Nhưng tôi biết, nhiều người khuyết tật, họ vẫn có những đứa con, cùng một gia đình hạnh phúc. Tôi rất mong anh, cũng có một gia đình, những đứa con và một sống hạnh phúc, đủ đầy.
Nỗi buồn, thì chẳng thể tan, nhưng vẫn có những lạc quan, vui tươi, tình yêu cuộc sống, hướng tới tương lai.
Và, trong một lần nói chuyện, Hàn Phong Vũ đã tâm sự với tôi: Tôi vẫn tìm được cái may mắn trong cái không may mắn của cuộc đời mình. Đó là sự giúp đỡ và tình thương bao la của con người". Chính vì vậy anh đã dành rất nhiều bài thơ, viết về những người đã giúp đỡ mình như một tác phẩm có cái tên: "Bài thơ". Tác phẩm ấy, anh dành riêng cho mẹ Tim. Người mẹ đã xây ra ngôi "Nhà May Mắn", để đón rất nhiều người không may mắn về ở, và cho họ niềm vui cuộc sống:
"Ôi! Mẹ Tim luôn là tiên dáng thế
Mang tình thương ban tặng cho đời
Ôi Mẹ Tim như là hoa hồng thắm
Luôn nở nụ cười hiền dịu trên môi...
Ôi Người Mẹ có trái tim cao cả
Quên tuổi đời, chẳng ngại gian lao
Suốt ngày đêm mẹ luôn trăn trở
Lo cho bao người bất hạnh thương đau."
(Bài thơ)
Hình tượng người Mẹ Tim thật cao cả. Mẹ như một hình tượng đại diện cho những người Mẹ của Việt Nam, với tấm lòng bao la nhất.
Và, một mảng thơ không thể bỏ qua trong thơ Hàn Phong Vũ, là mảng về thiên nhiên. Tuy không nhiều, nhưng mảng thơ về thiên nhiên vẫn mang dấu ấn khá sâu sắc, nhiều khi nó là điểm tựa để nhấn mạnh tâm trạng tác giả:
"Trời cao - biển rộng mênh mông
Non xanh - nước biếc thắm nồng tình quê
Mơ trên sóng nước trở về
Quê xưa - chốn cũ say mê một thời...
(Trở về)
Bài thơ, dựa vào khoảng cao của trời, khoảng rộng của biển, nét đẹp của non - nước, để miêu tả vẻ đẹp của quê hương. Bài thơ làm tôi liên tưởng tới, "Thề non nước" của Tản Đà, "Tràng Giang" của Huy Cận. Với không gian và thời gian như vậy, ta có thể khẳng định tình yêu quê hương, đất nước của anh mãnh liệt thế nào. Vẻ ao ước về quê, để quay lại ký ức dù chỉ trong mơ. Lại mơ trên sông nước trở về, nó như thể hiện sự mãnh liệt trong cái ước mơ đó của anh. Điều đó chứng tỏ Hàn Phong Vũ là một người mạnh mẽ.
Và, khi nhận thức cái giấc mơ được đi trên sóng trở về, chỉ là một giấc mơ không có thực, Hàn Phong Vũ đã dùng mùa đông, và khung cảnh thiên nhiên mùa đông, để nhấn mạnh tâm trạng của mình:
"Đông về cây lạnh lá run
Khói sương giăng phủ mịt mùng xa xăm
Quê xa bao tháng bao năm
Chiều nay gió dây, người nằm nhớ quê."
(Gió đông).
Ở đây Hàn Phong Vũ đã rất tài tình khi miêu tả về mùa đông, đến nỗi cây cối cũng nhận ra được cái lạnh, cái lạnh thể hiện cho sự cô đơn, vắng vẻ. Đã thế rồi, lại gặp cái màn sương, như che đi nhiều ước muốn, nhiều giấc mơ, làm cho anh thấy khó khăn hơn khi nghĩ về với những gì mình đang nung nấu có được. Cái hay là Hàn Phong Vũ dùng từ cũng rất độc đáo, trong câu: "Quê xa bao tháng bao năm", anh đã dùng từ "quê xa" chứ không phải "xa quê". Chính từ "quê xa" làm nhấn mạnh hơn chiều dài địa lý, chiều xa khoảng cách so với từ "xa quê". Và, hình ảnh đối lập "gió dây" và "anh nằm", hai hình ảnh như bổ trợ cho nhau, đó là một cách dùng rất độc đáo và khôn khéo.
Dù là viết về cái gì đi chăng nữa. Anh cũng dành thơ cho những bạn thơ tri kỉ, đó là nhà thơ Hữu Thịnh ở Hải Dương và nhà thơ Huệ Nguyên (Đắk lắk). Trong văn đàn, chúng tôi gọi ba người này là tam thi, mỗi người sống ở một vùng của đất nước, nhưng họ thường liên lạc với nhau. Họ cùng vui, cùng buồn với nhau. Và Hàn Phong Vũ đã từng tâm sự với tôi: Ba người chúng tôi gặp nhau từ thơ, và thơ đã gắn kết chúng tôi tự khi nào. Bài thơ " Gửi anh Hữu Thịnh" trang 30 và "Tặng bạn Huệ Nguyên" trang 31, là hai bài thơ rõ nhất về tấm lòng của Hàn Phong Vũ dành tặng cho hai bạn thơ tri kỉ: "Anh ơi xin chớ buồn lâu/ Đớn đau hãy gửi lệ sầu vào thơ (Gửi anh Hữu Thịnh), và "Một đời mang trọn nỗi sầu/ Hồn thơ vẫn thấm đượm màu yêu thương" (Tặng bạn Huệ Nguyên).
Qủa thật, ba người cùng cảnh ngộ, nên chắc họ hiểu nhau nhất. Về thể thơ họ đều dùng nhiều nhất với dòng thơ lục bát. Họ đã cùng an ủi nhau trong cuộc sống, để vượt qua được những con đường dài trước mắt, để có ích cho đời.
"Lẽ nào em" là tập thơ thể hiện được tình yêu thiên nhiên, con người, những niềm tin vực dậy cuộc sống để vươn xa với cuộc đời. Hàn Phong Vũ đã và đang hòa chung vào nền thơ ca của người khuyết tật, là tiếng nói mạnh mẽ của lòng người, xít gần người và người. Mỗi bài thơ trong tập thơ "Lẽ nào em" như một lời chân thành làm rung động lòng người.

ĐỨNG GIỮA ĐỒNG KHÔNG - VŨ HỮU ĐỊNH







một bầy sáo nhỏ qua sông

một em tôi đã cầm lòng đi xa

như con sông nhỏ thật thà

sớm hiu hắt tạnh, chiều sa mưa nguồn



một bầy sáo đã đi luôn

một em tôi đã để buồn lại đây

con chim quyên đã lạc bầy

xuống sông vọc nước đợi ngày xế ngang



một bầy sáo nhỏ bay hoang

một em tôi đã bỏ làng đi xa

tôi ngu ngơ giữa chiều tà

em đi để lại mình ta giữa đồng.


Jordan Carver


Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost
Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost
Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost
Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost
Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost
Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost
Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost
Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost
Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost

Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost
Jordan Carver Sexy Hot Big Boobs Lost