Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011

ĐÊM HẠ HUYỀN EM - NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO


Người về miền chân mây hóa tiếng cười trong gió
Chảy ngược trái tim non tơ ngọn cỏ tình yêu chớm nụ
Hân hoan bầu trời đêm những loài sao đi lạc
Đoản mệnh lời nguyền

Ngày hạ huyền em mùi cơ thể cây sồi trên cao
Núi đốn ngã phía nào không có bão
Em lục tìm khúc đồng dao ngọn cỏ lia thia trên song mây
Những ngón tay trầm ngâm đếm ngày qua đuôi mắt

Khóc
Những lặng thinh trên ngọn cỏ nhắc em điều gì
Tháng bảy
Có ai về xông hương trầm cho đất
Trời quánh hạn ngân ngấn cơn mưa
Trăng tán trên cao gốc đa còn sót lại
Những chú cuội hình nhân…

Ta bay trong đêm hạ huyền mục ruỗng những lời thương nhớ tỉ tê
Rót vào ngực gió
Rúc rích tiếng cười em lạc ngày hoang dại
Mà đau?


Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

MƯA HUẾ ...HUẾ MƯA - TRẦN KIÊU BẠC


Huế như dài ra theo cơn mưa
Huế khoác khăn che mỏng bụi mờ
Huế thả chùm mây theo vạt áo
Nhón bàn chân nhỏ gót tiểu thư

Mưa rót cô đơn lòng thiếu phụ
Mưa chìm phố cổ đợi ai qua
Mưa trải rộng thêm ngàn tâm sự
Mưa nhả vào tim nỗi nhớ nhà

Mưa Huế hình như chỉ bắt đầu
Mà dài se sắt mãi về sau
Trầm ngâm một bóng ai ngồi đợi
Chỉ thấy mưa rơi đỏ mắt sầu

Huế xa xôi mà Huế thật gần
Mưa qua khuấy động cõi tình nhân
Mưa siết tay cho tình thêm ấm
Mưa tạt vào lòng những bâng khuâng

Nì hỏi nhỏ, khi mô trời mưa tạnh
Huế buồn khẽ nói, biết khi mô
Có lẽ mưa tuông chưa dứt hạt
Mưa hoài nên Huế đọng thành thơ

Hỏi nhỏ, khi mô trời mưa tạnh
Huế buồn khẽ nói, biết khi mô
Có lẽ mưa tuông chưa dứt hạt
Mưa hoài nên Huế đọng thành thơ.

TRẦN KIÊU BẠC

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

Bí quyết nói chuyện trước đám đông

Phần lớn mọi người xem việc phải nói chuyện trước đám đông là nỗi sợ hãi kinh khủng nhất. Nỗi sợ đó còn hơn cả sợ rắn, sợ đi máy bay, hoặc ngay cả sợ cái chết. Nhưng chúng ta không thể trốn tránh nó mãi. Nhiều người trong chúng ta có thể được mời ra trình bày một báo cáo, phát biểu trong buổi họp phụ huynh học sinh, nói lời chúc mừng trong lễ cưới. Làm sao để bạn có thể vượt qua những thử thách đó. Thật đơn giản chỉ với một chút thời gian luyện tập.


- Quy tắc quan trọng nhất trong việc nói chuyện trước đám đông là bạn phải biết mình nói gì. Điều này nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng thông thường các “diễn giả” không hề có một ý niệm rõ ràng về những gì họ truyền đạt đến người nghe. Bạn cần phải biết chính xác bạn sẽ đưa người nghe đến đâu. Một khi đã biết, hãy liệt kê nó thành 3 hay 4 điểm chính và soạn bài nói của mình tập trung vào những điểm này thôi. Bạn không phải là một cuốn từ điển sống, việc đưa ra quá nhiều thông tin hay không đủ thông tin cũng đều dở như nhau.

- Thực hành, nhưng không cần quá nhiều: Liệt kê ra những gì bạn sẽ nói và tập nói 1 hay 2 lần. Sẽ rất hay nếu như bạn canh thời gian trong khi tập, việc đó sẽ giúp bạn kiểm soát được thời gian nói mà không sợ bị lố. Có thể sẽ có những phút ngẫu hứng tình cờ xảy ra làm bạn bất ngờ và làm khán giả thích thú. Bạn sẽ không còn muốn xuất hiện trước đám đông nếu bạn đã nói về một đề tài cả ngàn lần rồi, bạn sẽ cảm thấy chán và chẳng thèm để ý tới khán giả nữa. Bạn cũng nên lập kế hoạch sẽ mặc những gì. Chú ý rằng đó phải là bộ đồ mà bạn cảm thấy thoải mái khi mặc vào. Và điều quan trọng nhất, đó phải là bộ đồ mà bạn biết sẽ làm mình nổi bật. Quyết định trước việc mình sẽ mặc gì trong ngày diễn thuyết sẽ làm bạn bớt lo lắng hơn.

- Hãy là chính mình: Nhiều người cảm thấy cần phải rập khuôn theo phong cách của ai đó khi nói trước đám đông, đó là vì họ cảm thấy họ không đủ tự tin để lôi cuốn sự chú ý của khán giả. Một số cảm thấy bị “khớp” và nghiêm túc quá mức và quên rằng tính hài hước cũng là một công cụ quan trọng của diễn giả. Đừng nên chỉ tập trung vào vấn đề chính, đôi khi những giai thoại cá nhân hay những mẩu chuyện nhỏ cũng là một cách rất tốt để hòa nhập với khán giả.

- Khán giả là bạn bè: Khán giả luôn ở đó, bởi vì họ quan tâm tới những gì bạn sẽ nói và muốn nghe bạn nói về vấn đề đó. Họ muốn bạn phải làm tốt. Đừng nghĩ khán giả như là một khối người thù địch, hãy xem họ chỉ là một nhóm cá nhân riêng lẻ. Hãy cố gắng nhìn vào một ai đó một lúc. Khi nói chuyện với khán giả, tiếp thu những ý kiến phản hồi của họ để hoàn thành bài nói chuyện của mình.

- Bạn sẽ vượt qua thôi mà: Tôi chưa bao giờ từng nghe thấy có ai chết trên bục diễn thuyết cả. Bạn cũng không bị thở dốc, hụt hơi, quên mất tên mình hay bị nổi nóng. Đấy là những chuyện gây ám ảnh cho bất cứ ai phải đứng trước đám đông. Người ta gọi đó là cơn ác mộng của diễn viên. Việc đó hoàn toàn bình thường. Sử dụng một số kỹ thuật thư giãn trước khi bắt đầu. Bạn có thể tìm một nơi để nhảy lên nhảy xuống hoặc dậm chân thật nhanh, điều này sẽ giúp bạn cảm thấy vững vàng và giảm bớt căng thẳng. Lắc bàn tay và co duỗi nắm tay. Điều này sẽ làm tay bạn bớt run. Nếu run tay thực sự là mộtt vấn đề thì hãy nắm lấy một tấm danh thiếp hay nắm vào bục diễn thuyết khi nói chuyện. Lè lưỡi ra, trợn mắt và há miệng to hết cỡ, sau đó nhăn tít mặt lại. Việc này sẽ làn thư giãn các cơ mặt của bạn. Hít thật sâu và thở mạnh ra tiếng để làm ấm giọng của bạn. Tưởng tượng như bạn đang ở trên một đám mây, không gì có thể làm hại đến bạn khi bạn đang ở trong đó. Hãy cố gắng giữ hình ảnh ấy trong đầu khi bạn đang đứng trên diễn đàn. Sẽ trở nên dễ dàng hơn! Nói chuyện trước công chúng càng nhiều, việc đó càng trở nên dễ dàng hơn. Có khi bạn còn cảm thấy thích nữa ấy chứ.

CÂU CHUYỆN THIỀN THẬP MỤC NGƯU ĐỒ

10 Bức Tranh Chăn Trâu

Chúng tôi xin giới thiệu về "Mười bức tranh chăn trâu" hay "Thập mục ngưu đồ" để chúng ta cùng nhau tư duy, quán chiếu Giáo lý Phật Đà.
Bộ tranh được phát hiện sớm nhất tương truyền là của thiền sư Quách Am (Kakuan hay Kuoan Shihyuan, 1100-1200, cũng thường được gọi là Khuếch Am Sư Viễn) người Trung Quốc, sinh vào thời nhà Tống thế kỷ XII.
Thiền sư dựa vào các bản luận cũ của tiền nhân rồi họa 10 bức tranh chăn trâu, mượn hình ảnh tượng trưng của trâu trong Lão giáo, rồi viết bài tụng và lời bàn bằng văn xuôi. Bộ tranh của ngài thuần chất thiền, sâu sắc hơn các bộ tranh của các bậc tiền bối và từ đấy trở thành nguồn cảm hứng sâu xa cho các thế hệ sau này phỏng theo đó mà vẽ ra thêm nhiều bức họa khác nữa.
Từ đó ngày càng có thêm nhiều bộ tranh mới khác hoặc màu, hoặc đen trắng, bắt đầu xuất hiện ở các chốn già lam, thiền viện .
Và những bộ tranh này cũng phản ảnh được nhiều khuynh hướng khác nhau trong sự tu tập, không thống nhất một cách khô khan, mà lại uyển chuyển sáng tạo, tùy duyên truyền pháp.
Như vậy là không phải chỉ có một bộ, mà có nhiều bộ “mục ngưu đồ” khác nhau, tất cả đều đượm nhuần tinh thần Phật giáo Bắc Tông.
Tuy có nhiều bộ tranh nhưng về hình thức thời bộ nào cũng như bộ nào, mỗi bộ đều có 10 bức, mỗi bức có một bài tụng bằng thơ tứ tuyệt và một bài chú giải bằng văn xuôi cho cả tranh và bài kệ.
Còn về tinh thần thì tranh tuy có nhiều, nhưng có thể xếp thành hai loại: Đại thừa và Thiền tông.
Loại tranh theo khuynh hướng Đại thừa vẽ lại quá trình tu chứng, từ việc tự thắng bản năng mình, đến tự tri và cuối cùng là đạt đến tự tại. Loại tranh theo khuynh hướng Thiền tông khắc họa tiến trình thực nghiệm tâm linh với ba giai đoạn: sai tâm bắt tâm, tâm vô tâm và tâm bình thường.
Trong mỗi loại, tranh vẽ khác hết ,nhưng bài tụng và bài chú riêng cho mỗi loại vẫn không thay đổi. Hình ảnh người mục đồng tượng trưng cho giới thể, cho thiền định, cho chính trí, nói chung là cho chánh pháp của đức Phật.
Con trâu tượng trưng cho cái tâm của chúng sinh, cái tâm ấy là cái tâm vọng tưởng, tâm phân biệt, chất chứa đầy phiền não, mê lầm và dục vọng. Chúng sinh lấy giáo pháp chân chính của đức Phật để chữa trị các sự mê lầm và dục vọng này thì cũng tương tự như người mục đồng trị con trâu hoang dã đầy tật chứng vậy!
Dưới đây là 10 bức tranh chăn trâu, trâu chuyển dần từ đen (trâu đen tức là tâm còn buông thả) sang trắng (tâm được thuần phục dần).
10 bức tranh chăn trâu của Thiền sư Quách Am và của giáo sư thiền học Daisetz Teitaro Suzuki.

Tranh 1. Tìm trâu
Click chuột để phóng to ảnhThật ra con trâu chẳng bao giờ thất lạc. Nó vẫn sờ sờ ra đó, đâu phải kiếm tìm? Chẳng qua chỉ vì ta rời xa thực tướng cuả mình nên ta không hề thấy nó. Trong sự mê muội của sắc tướng mà ta mất dấu vết của nó.
Ở xa căn nhà, ta thấy nhiều ngỏ đan nhau, nhưng đâu là con đường chính. Lòng tham và sợ hãi, tốt và xấu ràng buộc lấy ta.
Tranh 2. Thấy dấu
Click chuột để phóng to ảnhHiểu được lời dạy, ta thấy dấu chân của trâu. Rồi ta biết rằng, như nhiều dụng cụ được chế từ kim lọai, muôn vàn sắc tướng đều do ngã tạo ra.
Làm sao ta thấy được thực và ảo nếu ta không phân biệt? Khi chưa vào được cửa, hẳn nhiên ta phải tìm cho ra con đường
Tranh 3. Được trâu
Click chuột để phóng to ảnhNó sống trong rừng đã lâu, nhưng ta bắt được nó hôm nay! Sự đắm say cảnh sắc đã làm nó lạc đường.
Vì ham muốn cỏ ngon hơn, nó lang thang phiêu bạc.
Tâm của nó còn bướng bỉnh và không chịu thuần phục. Nếu muốn nó nghe lời, ta phải dùng roi.

Tranh 4. Chăn trâu
Click chuột để phóng to ảnhTrâu bị kiềm chế bấy giờ có lẽ đã đau đớn vì bị dây vàm kéo lỗ mũi, lại sợ lãnh thêm những đòn roi, nên bắt đầu dần dà chịu phép, chịu khuất phục.
Trâu bị giơ roi dắt đi, nhưng đầu đã sạch trắng ra. Tuy là trâu hết chạy tới chạy lui hung hăng hùng hổ, nhưng trẻ chăn trâu vẫn phải nắm chặt sợi dây vàm xỏ mũi mà kéo nó đi, chưa dám buông thả, tay chưa dám bỏ cây roi.
Chú dắt trâu đi nhẹ nhàng, không còn phải dùng sức lực lôi kéo hay roi vọt đánh đập nữa.
Tranh 5. Thuần phục
Click chuột để phóng to ảnhĐến đây là đươc chút nhàn rỗi vì đã tu được nửa chặng đường rồi, ít còn phải dụng công nhiều nữa.
Người luyện tâm lúc này đã hoàn toàn điều phục được tâm ý mình và sống trong tỉnh thức.
Tâm ý đã thanh tịnh, người tu thật an lạc, thấy được sự mầu nhiệm của cuộc sống.
Thấy ra tu là hướng nội, là chuyển chính nội tâm mình trở nên thanh tịnh tốt đẹp, không phải là chuyển cảnh vật bên ngoài theo ý mình.

Tranh 6. Cỡi trâu về nhà
Click chuột để phóng to ảnhCởi trâu, ta thong thả quay về nhà. Tiếng tiêu của ta réo rắc chiều tà. Ngón tay láy nhịp, ta hòa điệu không ngừng.
Ai nghe nhạc khúc du dương này xin tấu cùng ta.
Cuộc tranh đấu đã qua; được hay thua đều không khác.
Ta hát bài ca của tiều phu và thổi điệu đồng giao. Cởi trâu, ta ngắm mây trôi bồng bềnh.
Ta đi tới dù ai có gọi giật lại.
Tranh 7. Quên trâu còn người
Click chuột để phóng to ảnhPháp bất nhị. Ta chỉ tạm mượn chuyện trâu. Nó cũng như sự tương quan giữa thỏ và bẫy, giữa cá và lưới, giữa vàng và cặn, hay trăng vừa ló khỏi mây.
Một tia sáng xuyên suốt vô thỉ vô chung.
Ta điều phục tâm nhưng thật ra chẳng có chi để điều phục.
Bởi tánh giác là của ta, theo ta suốt dọc đường sinh tử.
Giờ ta có thể ung dung tự tại với tánh giác của ta, bỏ mặc roi thừng là thứ tạm bợ.

Tranh 8. Dứt cả hai
Click chuột để phóng to ảnhVòng tròn tượng trưng cho “Viên Giác”.Trâu và người chăn, tâm và cảnh dứt hết là hiển hiện ánh chân như lung linh trong màu cỏ nội hoa ngàn.
Nhiễu sự đã qua.Tâm không còn chướng ngại. Ta không mong cầu cõi giác ngộ.Ta cũng không trú vào nơi không giác ngộ.
Vì ta không vướng mắc vào cả hai, mắt không hề nhìn thấy ta. Nếu hàng vạn chim cúng hoa trên đường ta đi, sự tán thán đó cũng chỉ là hư vô.
Tranh 9. Trở về nguồn cội
Click chuột để phóng to ảnhNgay từ ban đầu, chân lý đã sáng tõ. Qua thiền định, ta quán đến sắc tướng hợp tan.Cội nguồn là tâm thể chân thật, nó vốn sẵn như vậy, không cần phí công để tìm, không cần phí sức để trở lại.
Thấy nghe mà không phân biệt tốt xấu, hay dở, cũng giống như mù như điếc nên nói mù câm.
Trong am là chỉ cho tâm thể thênh thang trùm khắp không có một vật gì ngoài nó. Chừng đó mới thấy tự tại, thấy nước mênh mông, thấy hoa tự nở hồng nở tía mà không bận tâm không vướng mắc.
Đó là phản bổn hoàn nguyên, gọi là vào cảnh giới Phật
Tranh 10. Thỏng tay vào chợ
Click chuột để phóng to ảnhThiền Sư mặc áo bày ngực, chân không dày dép đi vào chợ để làm những việc rất tầm thường như người đời. Miệng cười hỉ hả, không cần gìn giữ giới hạnh mẫu mực của người tu, không thuyết giảng giáo lý cao sâu mầu nhiệm.
Chỉ làm con người rất bình thường để dạy cho những người bán cá, bán thịt ở ngoài chợ, ở quán rượu, là những con người không có chút đạo đức, khiến cho họ có chút đạo đức biết tu hành.
Đó là trọng trách giáo hóa của người tu đã đến chỗ viên mãn.Chỗ này là chỗ thiết yếu, hành giả cần phải hiểu cho rõ, người tu sau khi vào cảnh giới Phật tức là đã triệt ngộ, rồi mới vào cảnh giới ma để lăn xả vào đời, làm lợi ích cho đời.

(Thiền sư Quách Am và của giáo sư thiền học Daisetz Teitaro Suzuki.)

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2011

SM 8- Lá vàng mấy độ


LÁ VÀNG MẤY ĐỘ

Lá vàng mấy độ lá vàng mơ
Nhuộm mùa thu biếc lãng đãng mờ
Như sương như khói giăng mộng ảo
Chất chứa tim người những nổi đau...

Thả trôi đi nhé cơn mưa sầu
Để cho hạnh phúc bình yên ngủ
Em vỗ về người giấc mộng sâu

Cứ ươm thêm nhé những giấc mơ
Hoang đường như chưa có bao giờ
Tình Anh em gói trong tâm tưởng
Để thấy mình giàu nhất thế gian.

Cho dẫu mai kia giấc mộng tàn
Ta còn kỷ niệm nhớ miên man
Còn mãi những vần thơ tiếp nối
Còn bóng còn hình giữa nhân gian...

---muaphonui---



SM 7- Trở bến



TRỞ BẾN

*Tặng chị MH


Xin đừng xa nhau thế !
Hỡi những người yêu nhau .
Đừng để tình nhạt màu
Theo thời gian phai dấu .

Con tàu rời xa bến
Sẽ trở lại thôi mà !
Ngại gì bước đường xa
Con tim không giữ hẹn

Chiều nghiêng nghiêng con nắng
Nghe tiếng gió lao xao
Người có về phương nào
Rồi trở lại người nhé !

Sợ chị tôi đơn lẻ
Chiếc lá bỗng quay tròn ...
Vặn ngược dòng thời gian
Xuôi con tàu trở bến .

---muaphonui---


SM 6-Mưa cuối mùa





MƯA CUỐI MÙA


Giọt mưa phố núi muôn đời
Thâm trầm cõi mộng khung trời lẻ loi .
Gọi mùa thu đến bên tôi
Sẻ chia tâm sự cùng người tri giao
Giọt mưa vô tội thương ơi !
Nẻo đời nghiệt ngã , lòng người đa đoan
Cơn mưa nhỏ bé cầu toàn
Mong mang hạnh phúc bình an mọi nhà .
Thân em lệ đổ mưa sa !
Âu là hạnh phúc bao la đất trời
Giọt mưa thu cuối mùa rơi
Nhủ người quân tử thả trôi nổi sầu .

---muaphonui---




 

PHÁP MÔN CHĂN TRÂU



Pháp môn Chăn Trâu

Trong một bài hát quen thuộc với mọi người chúng ta, có câu: "Ai bảo chăn trâu là khổ? Chăn trâu sướng lắm chứ!". Ðó là lời mở đầu của một ca khúc nói về sinh hoạt của các mục đồng chăn trâu ở thôn quê. Trong Phật giáo, đặc biệt là thiền tông, chư vị Tổ Sư chỉ dạy một phương pháp tu hành gọi là "Pháp Môn Chăn Trâu".
Pháp môn này áp dụng triệt để lời dạy của Ðức Phật, trong cuộc sống hằng ngày của người Phật Tử, tại gia hay xuất gia. Khi hiểu được và hành được pháp môn này, người Phật Tử sẽ thấy được con đường vào đạo, tâm sẽ được nhập lưu, tức là nhập vào dòng thánh, khác với dòng đời, tuy thân vẫn sống ở đời, như bao nhiêu người khác, mà tâm không hề khổ đau lụy phiền.
Khi hiểu được và hành được pháp môn này, trí tuệ sáng ra, cuộc đời thay đổi kể từ ngày này, người Phật Tử đối với Chánh Pháp, sẽ không còn thoái chuyển, phát tâm tu dưỡng, phát nguyện chăn trâu, việc ác ngưng làm, quyết làm việc thiện, không còn mặc cảm, tự tôn tự ti, chân trời an lạc và hạnh phúc bắt đầu ló dạng.

_Khi hiểu được và hành được pháp môn này, người Phật Tử không còn đi vòng vòng bên ngoài, vừa vui chơi thích thú, cười nói hả hê, cũng vừa kêu khổ, kêu khổ chưa xong, cầu nguyện van xin, khấn vái khẩn cầu, vừa mê tín dị đoan, vừa tiền mất tật mang, chẳng lợi ích gì, hết cầu an cầu siêu, đến cầu đoàn tụ, cầu buôn may bán đắt, cầu trúng số độc đắc, thực sự có được gì đâu?
_Khi hiểu được và hành được pháp môn này, người Phật Tử tại gia không còn thấy chuyện tu tâm dưỡng tánh là chuyện của những người xuất gia vào ở trong chùa, mà tu tâm dưỡng tánh chính là chuyện của mọi người, chuyện của chính mình, chuyện của bất cứ ai muốn giảm bớt khổ đau, muốn xuất phiền não gia, muốn ra khỏi căn nhà lửa, muốn được an lạc và hạnh phúc ngay hiện tại, trên thế gian này, trong mọi hoàn cảnh, trong cuộc sống hằng ngày.

Con người luôn sống trong mộng tưởng, cho nên luôn luôn mơ ước cảnh giới thiên đàng cực lạc, mà không biết mình đang sống trong hiện tại, không biết mình đang sống một cuộc đời hết sức vô nghĩa, chẳng làm gì ích lợi cho ai, chỉ biết ăn ngủ hưởng thụ, đấu tranh giành giựt, hơn thua phải quấy, rồi chờ ngày chết!Bởi vì sống trong điên đảo, cho nên con người nhận lầm cái giả tưởng là thực, cái khổ lại cho là vui.Chẳng hạn như nhiều người cứ tưởng cái xác thân này là "mình" và sẽ mang cái xác đó lên thiên đàng hưởng phước, hoặc đem cái xác đó lên cực lạc cho sướng tấm thân!
Ðâu chẳng biết rằng, sau khi hết thở, chính cái xác này, gọi là thây ma, ai dám đến gần?
Cát bụi sẽ trở về cát bụi! Chỉ có nghiệp báo thiện ác theo "mình", như hình với bóng, không bao giờ rời, qua bao nhiêu kiếp sau nữa.Còn "mình" thực ra là ai, thì lại chẳng biết! "Con Người Chân Thật" đã bị vô minh che lấp tự lâu lắm rồi, mà chúng ta vẫn không chịu tỉnh thức để nhận ra!
Con người thức tỉnh biết "dừng nghiệp và chuyển nghiệp" thì trí tuệ bừng sáng
Ðiều quan trọng hơn hết trong việc tu tâm dưỡng tánh, chính là chúng ta phải biết cách chăn trâu.
Nghĩa là: chúng ta phải biết cách dừng các vọng tâm, vọng tưởng, vọng thức, vọng niệm. Ðó chính là công phu tu tập theo đạo Phật, để cải thiện cuộc đời mình, để chuyển hóa những ưu tư phiền muộn, trở thành vô tư tự tại. Chẳng hạn như khi, tâm tham nổi lên, lợi mình hại người, muốn được bạc triệu, xài chơi cho sướng, nghĩ cách hại người, bất chấp thủ đoạn, chúng ta liền biết, lập tức dừng ngay, không nên tiếp tục, theo đuổi vọng tâm, vọng tưởng vọng thức, vọng niệm đó vậy, tức là chúng ta, đã dừng được nghiệp, và chuyển được nghiệp.
Khi đó, con người sẽ tự tại bước ra khỏi màn vô minh, thoát ra khỏi sanh tử luân hồi, không còn phiền não và khổ đau, sống trong an lạc và hạnh phúc. Ví như khi nào mây đen tan hết, bầu trời lại trong sáng, mọi cảnh vật hiện rõ ràng trước mắt, nhìn thấy muôn sự mọi việc "đúng như thực", không còn mơ hồ, không còn điên đảo, mình sẽ nhận biết rõ ràng "mình là ai", không còn nghi ngờ gì nữa cả.
Nhưng làm sao để thức tỉnh, làm sao để trí tuệ bừng sáng?

Lúc nào mình làm chủ được con trâu của mình, tức là làm chủ được thân và tâm mình.
"Thấy cũng như không thấy, nghe cũng như không nghe, nói cũng như không nói." Khi tiếp xúc với cảnh trần, nhưng không ý kiến, không lập tri, không khởi tâm phân biệt, tức là không dấy khởi vọng tâm, vọng tưởng, vọng thức, vọng niệm, cũng như lúc không tiếp xúc với trần duyên vậy.
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Ðức Phật có dạy:

"Tri kiến lập tri tức vô minh bổn.
Tri kiến vô kiến tư tức Niết bàn".

Nghĩa là khi sống ở đời, chúng ta hiểu biết tất cả mọi việc, nếu dấy khởi vọng tâm, vọng tưởng, vọng thức, vọng niệm thì gặp phiền não khổ đau, đó là gốc của vô minh. Nhưng nếu không dấy khởi vọng tâm, vọng tưởng, vọng thức, vọng niệm, thì chúng ta sống được trong cảnh giới niết bàn.
Pháp môn chăn trâu trình bày phương pháp tu tâm dưỡng tánh qua mười giai đoạn
Giai đoạn này là lúc hành giả đã biết dừng nghiệp và chuyển nghiệp.
Mắt trông thấy sắc rồi thôi, không còn lưu giữ bất cứ hình sắc nào trong kho tàng tâm thức, dù đẹp dù xấu, dù dễ thương dù thấy ghét.
Tai nghe thấy tiếng, nghe rồi thì không, không giận không hờn, không yêu không hận.
Trong lòng, trong tâm thức, không khởi lên bất cứ một niệm nào, khởi lên là liền biết, không theo, niệm đó sẽ lặng đi.
Không theo có nghĩa là: không để cho con trâu dẫn dắt mình đi tạo nghiệp!
Chư Tổ có dạy:
"Nội cần khắc niệm chi công.
Ngoại hoằng bất tranh chi đức".

Nghĩa là: Bên trong khắc chế được tâm niệm lăng xăng lộn xộn, tức là luôn luôn chăn trâu, được gọi là công phu tu tập. Bên ngoài hành trì đức độ của người không tranh cãi. Ðó là những việc phải làm của người chân tu thực học.
Chăn trâu nghĩa là: Không theo sức mạnh, sức kéo sức lôi, của tánh tham lam, sân hận si mê.
Chăn trâu nghĩa là: Phải biết kềm giữ, xỏ mũi kéo lại, đừng để con trâu, dẫn mình đi đâu, tạo tội tạo nghiệp.
Nghĩa là: con người vì lăn lộn trong cuộc đời, bị vọng tâm, vọng tưởng, vọng thức, vọng niệm lôi cuốn, che lấp bản tâm thanh tịnh, quanh năm suốt tháng cả ngày, quên mất con người chân thật của chính mình .Trong kinh sách gọi là "nghiệp thức che đậy", lúc làm người tốt, khi làm kẻ xấu, sanh tử tử sanh mãi mãi, không biết đến bao giờ mới chịu dừng nghiệp và chuyển nghiệp.
Ðến đây, hành giả nhận ra rằng, hạnh phúc của mọi người trên thế gian cũng là hạnh phúc của mình.
Tâm địa bồ tát, tấm lòng vị tha, vì người quên mình, của hành giả tăng trưởng. Hành giả mang đạo vào đời, làm sáng đẹp cho đời, mà không bị đời làm ô nhiểm.
Hành giả thanh thản, thảnh thơi, thơi thới, nhẹ nhàng bước ra khỏi cảnh trầm luân, sanh tử luân hồi. Ðến đây, hành giả nhận ra rằng:
Hạnh phúc của mọi người trên thế gian cũng là hạnh phúc của mình.

"Mắt trông thấy sắc rồi thôi
Tai nghe thấy tiếng nghe rồi thì không
Trơ trơ lẵng lặng cõi lòng
Nhẹ nhàng ta bước khỏi vòng trầm luân".
"Ðó chính là mục đích, cũng là kết quả của "Pháp Môn Chăn Trâu".

Cư-sĩ Chính-Trực
(Toronto - Canada)

SM 5 - Tương Tư





TƯƠNG TƯ



Tàn thu ,
giấc ngủ mơ màng
Đêm ru điệu nhớ
ngỡ ngàng bóng ai
Giật mình ,
tỉnh giấc mơ say
Chỉ là cơn gió
đùa lay mộng vàng
Tơ vương người thả
đêm hoang
Đàn ai gảy khúc
man man tình buồn
Tương tư
lòng vỡ sợi tuôn
Rượu anh ngọt lịm
thoảng hôn môi nàng .

---muaphonui---

 
 

SM 4- Còn những nồng nàn

CÒN NHỮNG NỒNG NÀN


Vẫn còn những nồng nàn
Trên môi thơm gợi cảm
Một trời đầy bảng lãng
Kinh nghiệm và bao dung .

Quên làm chi cứ nhớ !
Nổi đau làm ta khôn
Nổi buồn luyện ta cứng
Chống vững đời chông chênh .

Đàn bà hơn con gái
Chẳng dại dột ngây ngô
Đàn bà rất đằm thắm !
Con gái chỉ kiêu căng .

Cái đẹp của chúng mình
Từ nội tâm vun dưỡng
Đàn ông khôn thường muốn
Sự từng trải của mình .

Chị ơi hãy vững tin !

---muaphonui---





SM 3- Phiêu lưu





PHIÊU LƯU

Khói chiều nhàn nhạt chí phiêu diêu
Nệm ấm chăn êm chiều nối chiều
Làm trai chưa thỏa - buồn se sắt ...
Tang bồng mây nước cuộc phiêu lưu .

Chán cảnh ngồi không tán dóc rồi
Dong thuyền ra biển tít mù khơi
Đi cho thỏa thích niềm háo hức
Làm trai phải được ...ước ...ước gì !

Càng đi càng tích vốn sống nhiều
Dạt dào thơ mới ,thỏa niềm yêu .
Phỉ chí nam nhi mộng hồ hải
Giang sơn gấm vóc đẹp yêu kiều .

Vậy nhé chàng ơi ! Nam - Bắc thỏa .
Sơn đầu hạ sóng chẳng quản nguy
Lên non mới biết non cao mấy
Xuống sông mới rõ nhẹ trần ai .

---muaphonui---

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

SM 2- Nổi nhớ dịu êm



NỔI NHỚ DỊU ÊM


Nhặt được chiếc chai nhỏ
Trong đó gói tình Anh
Từ mặt biển trong xanh
Dâng hoàng hôn nổi nhớ.

Sóng vỗ tràn bờ cát
Vẩn vơ tìm bóng nàng
Người ra đi khuất dấu
Để biển chiều xôn xao.

Chỉ còn là nổi nhớ
Gởi hồn thu dịu êm
Chỉ còn là ký ức
Oà vỡ theo mưa đêm .

Lời yêu bay theo gió
Chưa trôi hết nồng nàn
Nụ hôn tan trong nắng
Lóng lánh dấu ái ân .

Nhịp chân ai vẫn bước
Lặng lẽ dấu độc hành
Trái tim hoài rực lửa
Dấu nồng nàn tình Anh .

---muaphonui---


Thơ Sắc Màu 1- Sắc màu hạnh phúc





SẮC MÀU HẠNH PHÚC


Hạnh phúc màu gì hở Anh ?
Có phải xanh xanh như mặt biển ,
ửng chút bọt sóng lăn tăn ...
Một màu xanh ngút ngàn ,
ngập tràn khát vọng chơi vơi
Ươm xanh huyền thoại .

Hay ửng màu tim tím như nổi nhớ ?
Sự đợi chờ chung thủy...
Của những niềm tin yêu không bao giờ vỡ tan .

Có khi nào hạnh phúc màu vàng ?
Của bình yên - chân tình - an ủi
Như ánh trăng soi đêm xua bóng tối
Như lời tự tình Anh hát em nghe !

Hạnh phúc phải là màu đỏ ?
Của những đam mê - ảo vọng bừng loan
Của ngút ngàn những nổi niềm toan tính
Của si mê - khao khát chập chùng .

Hạnh phúc có thể màu đen không ?
Màu đen của muôn vàn thách đố
Của màn đêm suy tư trăn trở
Bóng đêm yên tĩnh và bao dung .

Cũng có thể hạnh phúc mang màu trắng
Màu của bắt đầu - của kết thúc -của thơ ngây.
Như ánh sáng ban ngày dịu dàng và ấm áp
Là thứ ánh sáng không hề bị che khuất
Thứ ánh sáng rất cần cho sự sống ở nhân gian

Hay hạnh phúc mang màu trong suốt
Không vẩn đục bụi thời gian , không nhiễm khuẩn
Không lắt lay niềm kiêu hãnh -hoang mang
Như ánh mắt em say hoài một nỗi đam mê ngờ nghệch...
Là những cơn mưa êm êm nhiệm màu -hạt trong veo !


Hạnh phúc màu gì ? Kẻ đa tình như anh chắc phải biết
Anh hãy nói em nghe !


---muaphonui---

 


KHI EM VỀ LÀM DÂU XỨ NẪU - HỒ NGẠC NGỮ


Đừng giả giọng miền Nam kẻo nẫu lại cười
Ngữ đó mới đi mà đổi tiếng
Miếng thịt em đừng kêu miếng thịch
Con cá rô đồng đừng nói cá gô

Có những điều mong em nhớ cho
Khi em về làm dâu xứ Nẫu
Chiếc áo hai dây ra đường đừng mặc
Kẻo ngọn gió nồm kêu em lẳng lơ

Gặp những người già em phải dạ thưa
Để khỏi bị chê là người vô phép
Ăn trái chuối phải bẻ đôi mới lột
Tập uống chè xanh đỡ nóng mùa hè.

Ăn những món nẫu mời em đừng có chê
Người xứ Nẫu quí nhau mới đãi
Anh phải dặn em vì em là con gái
Sinh ở trong Nam nhưng gốc quê mình

Sống với nhau có nghĩa có tình
Có lẽ ở đâu người mình cũng vậy
Nhưng nếu về quê lâu ngày em sẽ thấy
Dẫu có khó nghèo, chồng vợ vẫn thương nhau !

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2011

NGUYỄN TUÂN VỚI HUẾ - NGỌC TRAI


Nhà văn Nguyễn Tuân - Ảnh: Thế Hùng
Một số anh chị em ở Huế biết tôi có ghi chép được ít nhiều về Nguyễn Tuân, bảo tôi viết lại và gửi cho Tạp chí Sông Hương. Riêng tôi, muốn tạo một dịp để anh Nguyễn nói trực tiếp với bạn đọc Sông Hương, nên xin được hỏi anh Nguyễn chung quanh chuyện Huế, được anh Nguyễn nhận lời, tôi xin trung thành ghi lại toàn bộ cuộc trò chuyện đó.

HỎI: Thưa Anh, trong tác phẩm của anh người đọc bắt gặp thấp thoáng nhiều ngôn ngữ, thậm chí cốt cách Huế, xin anh nói cho đôi điều về hiện tượng đó.

ĐÁP: Tôi cứ vấn vương với Huế vì đã có nhiều thời kỳ sống ở Huế. Hồi nhỏ tôi đã ở Huế, thầy tôi làm ký lục ở Tam tòa, nhà bên Gia Hội. Thầy tôi hay đi đây đi đó đi đò trên Sông, lên Tuần, về chợ Dinh... lúc nào cũng dắt tôi đi theo ; thế là những hình ảnh điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ, chùa Diệu Đế bốn lầu ba chuông nhập vào mình lúc nào không biết.

Xin lộ một điều này nữa: Ông nội tôi có mấy bà, trong đó có một bà người Huế. Thầy tôi, Cụ Tú Hải Văn, chính là con bà Huế đó. Như vậy, Huế là quê ngoại của thầy tôi. Chắc là tôi có được thừa hưởng ít nhiều máu Huế đó.

(Bỗng Nguyễn Tuân gật gù hóm hỉnh) Bây giờ, sau trận chảy máu dạ đày suýt chết vừa rồi, được bệnh viện Việt-Xô chuyền cho ba lít máu, không hiểu tôi được thừa hưởng thêm dòng máu và tính nết tốt đẹp của những ai đây?

Thầy tôi lại còn đèo bòng thêm một bà Huế. Vì vậy, sau này về hưu, thỉnh thoảng thầy tôi vẫn trở lại Huế và thường dẫn tôi theo. Tôi còn bé nhưng dường như cũng có thông đồng với ông cụ về chuyện này. Tôi hiểu được đôi nét ứng xử tinh vi, tế nhị của người Huế một phần là thông qua những nhận xét của thầy tôi.

Có lần ăn cơm nhà bà Huế, bố con tôi được bà thết một “bữa cơm muối”, tôi nhớ đúng là có mười hai đĩa muối: muối tiêu, muối ớt, muối mè, muối đậu phụng, muối sả, muối riềng, muối khuyết khô... Khi ra về, ông cụ bảo: Bà ấy nhắc khéo là bà ta hết tiền rồi đấy. (Tôi nhớ là chi tiết này Nguyễn Tuân đã viết trong bài “Nhớ Huế”, năm Mậu Thân. Đúng là Huế đã để lại trong Nguyễn Tuân những dư vị khó quên như vậy. Nguyễn Tuân lại nói sang những nhận xét của anh về Huế). Người Huế có cái kiểu complexe lạ lắm. Chị cũng là người hoàng phái, tôi kể cho chị nghe câu chuyện của các “mệ” (Nguyễn Tuân dừng lại một lúc khá lâu, như để hồi tưởng lại kỷ niệm cũ, sau khi nhấp một ngụm rượu anh kể, không, phải nói là anh diễn lại) Mệ đến hiệu thợ may, lân la một hồi rồi lấy cắp cái quần. Anh thợ may trông thấy nhưng sợ uy mệ không dám nói ngay, khi mệ ra về, tiếc của, anh thợ may chạy theo ra gãi đầu gãi tai và rụt rè thưa: (Đến đây, Nguyễn Tuân chuyển sang giọng Huế, nhiều lần anh nhắc cho tôi nhớ anh đã từng là diễn viên thì ở đây cái tài nghệ diễn viên của anh đã được bộc lộ một cách sắc sảo. Anh diễn lại đoạn đối thoại này bằng cả động tác và ngôn ngữ của người trong cuộc, đặc biệt là điệu bộ và giọng nói của mệ, tiếc là tôi không đủ khả năng để thể hiện lại đúng được hết hoạt cảnh này).

- Dạ, thưa mệ...

Mệ trợn mắt, quát to, dồn dập:

- Chi? Mi xin cái chi? răng không nói ngay, mi xin cái chi? hứ?

Anh thợ may nhỏ nhẹ, rụt rè:

- Dạ, khi hồi... mệ có khuấy chơi cái quần... dạ, mệ cho con xin.

Mệ tỉnh khô và phản công tiếp:

- Có rứa thôi mà mi mở miệng không ra, cứ dạ với thưa hoài làm tau bắt mệt!... Bây ngu lắm! Răng tau lấy trước mắt bây mà bây không biết hứ!... Đây, mệ cho! lần sau mà cứ như rứa là mệ chém ba cái đầu nghe!

(Và anh Nguyễn Tuân đưa ra lời bình) Ghê chưa! Từ một complexe d'inferiorité(1), mệ chuyển ngay thành một complexe de superiorité (2) một cách thông minh, láu lỉnh. Giá bây giờ khoa học có cách chi tiêm thuốc mà giữ cho sống mãi được thì phải tiêm mà giữ lại vài mệ như rứa để đưa vào bảo tàng thằng người cũ!

HỎI: Sau này, khi viết văn, làm báo, anh vẫn thường vô ra Huế?

ĐÁP: Hồi xưa tàu hỏa tốc hành Hà Nội - Sài Gòn chỉ mất 48 tiếng, tức hai ngày hai đêm tròn. Về sau, nó rút xuống còn 40 tiếng. Hễ buồn tình là tôi lại xách cái cặp da, trong chỉ có mỗi bộ pyjama, chống cái ba-toong là lên tàu đi thôi. Hồi đó chưa đau chân, cầm ba-toong là một lối chưng diện kiểu công tử ăn chơi. Đi Sài gòn tôi hay ghé Huế vì Huế ở trung độ. Tổ chức tàu bè hồi đó cũng thuận tiện. Anh cứ mua vé Hà Nội-Sài Gòn, qua Huế anh muốn xuống cứ việc xuống, anh vào ga đóng cái dấu, thế là khi cần đi tiếp thì cứ thế lên tàu mà đi. Có khi tưởng ghé lại chơi một hai ngày, tôi ở lại hàng tháng. Đôi khi cũng chả cần mua vé, đi lại nhiều như mình, cứ tiền mua vé cũng đủ chết. Tôi làm quen với nhiều bạn xe lửa. Khi thích đi thì tìm hỏi xem ngày nào bạn mình đến phiên trực tàu, cứ thế theo bạn lên tàu mà đi cùng cả nước!

HỎI: Xin anh kể lại một vài kỷ niệm về Huế hồi đó.

ĐÁP: Một lần tôi làm phóng viên cho Trung Bắc Tân Văn vào dự lễ Nam Giao. Cũng mặc áo đen, đội khăn đóng, đi dày hạ lên đàn xem tế. Chắc Chị cũng biết ngày hội Nam Giao đối với Huế là như thế nào. Mấy anh nhà hàng được một dịp xoay dân tứ xứ về xem hội tế. Ngày đó, tôi ở khách sạn Hương Giang gần chợ Đông Ba. Nước Sông Hương trong vắt, thiếu chi, rứa mà sáng ra, lấy cốc nước đánh răng, chủ khách sạn là Tôn Thất Đề tính tôi hai giác. Tôi hỏi: Tính toán kiểu chi mà kỳ cục rứa? Hắn tỉnh khô: - Dạ bẩm quan, là ngày tế Nam Giao! (Những đoạn đối thoại với người Huế này anh Nguyễn nói giọng Huế rất trúng kiểu Huế).

Kỷ niệm trên sông Hương thì nhiều lắm. Có khi trong túi không có tiền nhưng cứ chiều chiều là vào khách sạn Morin ngồi uống rượu. Cứ ngồi đó, gọi bồi thật dõng dạc, vừa uống, vừa chờ, thế nào cũng có vài thằng bạn kéo đến, anh nào có tiền, hôm ấy phải bao. Tối, tất cả rủ nhau xuống đò, xuôi về rạp hát Bà Tuần. Tôi đi thẳng vào sau cánh gà tìm cô Ba Vĩnh, cô đào nhất của rạp hát Bà Tuần. Cô Ba đưa ra ít tiền lẻ, tôi dắt túi, rồi đàng hoàng ra ngồi ở hàng ghế hạng nhất, trước cái trống chầu, sắp đến giờ hát, người hầu bưng ra cái khay trên để dùi trống, quan chơi sang là phải cho tiền rồi mới cần chầu. Tan buổi hát ở rạp Bà Tuần, lại rủ cô Ba Vĩnh xuống đò, lại giong ra giữa dòng Hương giang đàn hát suốt đêm. Đêm trên sông Hương có nhiều thuyền bán quà bánh. Một chiếc thuyền con, trước mũi treo ngọn đèn đỏ, cô lái đò hai tay thoăn thoắt bơi chèo, miệng rao lảnh lót: nem nướng, chè thịt quay, chè cá thu, dấm nuốt… Có khi các quan không có đồng nào vẫn gọi thuyền quà đến, chén xong, đuổi: - Thôi đi đi, mai trả!

Đó cũng là một kiểu, sống “bụi đời” bô-hê-miêng, chứ chi nữa?

Đò trên sông Hương cũng là một thứ khách sạn nổi. Có lần tôi sống hàng tháng trời dưới những khách sạn nổi ấy. Ngồi dưới đò viết feuilletons gửi từng kỳ ra tuần báo ngoài Hà Nội, rồi lại ra bưu điện săn đón mandat nhuận bút. Một phần của Thiếu quê hương được viết dưới đò Huế. Một số truyện trong Vang bóng một thời lấy cảnh sinh hoạt ở Huế có khi tên nhân vật cũng là tên một số người quen nổi tiếng ở Huế. Có lần mình sống dưới đò lâu quá, cụ lái muốn vòi thêm tiền lại thưa: Bẩm quan, đến hạn phải hui đò(3). Thế là lại phải đưa thêm tiền cho cụ lái không thì cụ buộc phải lên bờ thật.

Sống ở Huế, ra vô nhiều lần với Huế rồi thì lời ăn tiếng nói, cách xưng hô, ứng xử của Huế cứ vào mình lúc nào không biết. Lối xưng hô của Huế cũng có cái khác lạ làm tôi chú ý. Trước hết là cách xưng hô của các “mệ”, đàn ông cũng xưng mệ. Mình làm báo, người ta gọi là “quan tham nhật trình”, lại có quan tham lục lộ, quan thương, quan thị... Lại từ “cụ” mới rầy rà chứ: Cụ thượng, cụ tuần, cụ lái, cụ xe...

Thầy tôi, cụ Tú Hải Văn, có làm mấy câu thơ vui về cụ lái, cụ xe ấy:

Ối cụ xe ơi cụ lái ơi.
Xa nhau nhắn nhủ một đôi lời.
Con đường lục bộ sông Hương Thủy
Mấy kẻ đi về, kẻ ngược xuôi.

***
Dã viên cây cỏ chiều êm gió
lăng tạ lâu đài lúc tạnh mưa
Con sông có nhớ ta chăng?
Ta về ta nhớ cái thằng đò đưa

HỎI: Nghe chuyện Anh, và đọc tác phẩm của anh, mặc dù anh luôn tự hào tự phê phán, thậm chí có lúc tự phủi nhận cái quá khứ của mình, nhưng tôi vẫn cứ cảm thấy Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng vẫn là một. Hay nói cách khác việc anh tham gia cách mạng như là một điều tự nhiên hay tất yếu. Theo anh cảm nghĩ đó có đúng được phần nào không?

ĐÁP: Trước 1945, tôi không hề biết gì về cách mạng. Ngày ta đánh chiếm Phủ Khâm Sai tôi còn khăn đóng, áo đen “đi xem”! Hồi học năm thứ tư ở Collège Carreau Nam Định, bị bọn giáo viên tây đầm sà-lù, mẹc, xúc phạm đến tinh thần dân tộc của mình, tôi hô hào bãi khóa - bị tù. Phải nói rằng việc làm đó là một sự bột phát, nó cũng là do cái máu nổi loạn trong người mình chứ chưa phải do giác ngộ cách mạng gì cả.

Năm 1941 diễn ra cuộc tranh cãi sôi nổi giữa phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh, tôi vẫn còn theo phái vị nghệ thuật. (Nguyễn Tuân lại nhắp một ngụm rượu và gật gù hóm hĩnh) Mình phải nhận cái tội của mình như thế.

Đến Kháng chiến Nam Bộ, Hội văn hóa cứu quốc tổ chức một đoàn văn nghệ sĩ vào mặt trận khu 5, đoàn gồm có Nguyên Hồng, Sĩ Ngọc, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Đình Lạp và tôi. Anh Trần Huy Liệu đưa cho mỗi người một nghìn đồng tiền Cụ Hồ. Khi cầm tiền tôi hỏi anh Liệu: - Như thế này là tôi phải viết mấy bài? Ấy cái tính của tôi nó cứ hay sục sặc như vậy! Thế là mình cà khịa với cách mạng chứ gì nữa? May sao anh Liệu lại tỏ ra rất thoải mái. Anh cười và bảo: Anh cứ cầm lấy mà tiêu còn có viết hay không là tùy, thích thì viết không thích thì thôi.

Trước lúc lên đường, ông Tố Hữu lại đưa thêm một nghìn nữa. Tôi từ chối và nói: Anh Liệu đưa cho rồi. Anh Lành trả lời: Số tiền này anh đưa về cho chị và các cháu. Sự thật tôi đã không đưa đồng nào về cho vợ con mà mang theo cả vào mặt trận Khánh Hòa - Phú Yên.

Tôi kể một vài chi tiết nho nhỏ ấy để nói rằng chính những thái độ ưu ái, cởi mở ấy của ông Tố Hữu và ông Trần Huy Liệu là những yếu tố thêm vào cho mình dứt khoát đi với cách mạng và chuyển hẳn sang quan điểm vị nhân sinh.

Từ mặt trận Khánh Hòa trở về, tôi ghé Huế để nói chuyện chiến đấu ở mặt trận với đồng bào. Huế dưới mắt tôi lúc này đã có nhiều đổi mới. Những cô gái Huế trước đây mặc áo tím, đội nón bài thơ thì bây giờ là những cô nữ tự vệ thành phố, mặc áo ka ki, cắt tóc ngắn, đội mũ ca-lô. Trên các đường phố học sinh, các bà bán chợ Đông Ba, các cụ xe, cụ lái... rầm rập đi biểu tình ủng hộ Nam Bộ kháng chiến và đây đó các cô nữ du kích áo quần bà ba đen, tập côn tập kiếm, múa rất dẻo.

Đoàn tôi về đến Thanh Hóa thì ta phá đường tàu, tiêu thổ kháng chiến. Lúc này, ông Đặng Thai Mai tập hợp anh em văn nghệ sĩ để hoạt động kháng chiến, ông Tố Hữu cũng về đó. Tôi theo đoàn kịch “Tiền Tuyến” đi biểu diễn khắp khu IV.

Hồi vỡ mặt trận Huế, người Huế tản cư ra khu IV đông lắm. Đi biểu diễn, tôi thường gặp gỡ các gia đình Huế này để trò chuyện. Tôi lại xin kể về một nhân vật Huế: tôi kể về chuyện quan thương làm cách mạng (quan thương tá hiệp thương giữa nam triều và bảo hộ tên là Hoàng Phùng). Quan Thương tản cư ra khu IV, ngồi tán gẫu với bọn tôi, quan nói trạng. (Nguyễn Tuân lại bắt chước giọng Huế của Quan Thương và thái độ sừng sộ, làm phách của một ông công chức cũ để diễn lại chuyện này. Nhiều lần Nguyễn Tuân đã viết về chuyện mình từng là diễn viên điện ảnh. Giá lúc này có băng vi-đê-ô cát-xét mà ghi lại thì mới hiện lên hết cái hay của giọng Huế mình qua “diễn xuất” của Nguyễn Tuân).

- Chừ các anh làm cách mạng sướng như tiên, chứ cứ nghĩ lại cái thời của tụi tui, ui chao, hắn cực cách chi là cực! Tui làm ở tòa công sứ Thanh Hóa. Cứ nguyên cái chuyện phải đến sở đúng giờ phăm phắp là đã làm mình bắt mệt rồi rứa mà có hôm cái thằng công sứ, hắn bực cái chuyện chi mô ở nhà, đến sở hắn cứ xà lù mẹc nhắng cả lên. Tui mới bỏ ra khỏi phòng, đóng cửa đánh cái rầm! Nghĩ đi nghĩ lại tui vẫn chưa hết tức, quay vào nhìn thẳng vào mặt nó tui uấy me-xừ lơ Rê-di-đăng! (le Résident) lại đóng cửa đánh cái rầm to rồi bỏ đi thẳng. Rứa mà ngày hôm sau, sở mật thám hắn đã biết rồi đó! Có mệt không?

HỎI: Người ta nói anh có ăn tết ở Huế? Có cái Tết nào đáng ghi nhớ xin anh kể lại với bạn đọc Sông Hương.

ĐÁP: Hồi tôi theo Cha tôi vào Huế cứ sắp đến Tết là bà cụ lại vào đón cậu con trai đầu lòng trở về Hà Nội. Không bao giờ cụ bà chịu để tôi ăn Tết ở Huế cùng với ông cụ. Cụ làm điều đó để chứng tỏ quyền lực của cụ đối với gia đình, nhưng có lúc làm mình đến khổ. Có năm, ngày 30 Tết vẫn còn lềnh đềnh dọc đường, tôi có viết ở đâu đó về một cái Tết ở ngoài nhà mình thì coi như không có Tết. (Ngẫm nghĩ một lúc, anh Nguyễn nói tiếp): Tôi kể cho chị nghe về một cái Tết Tây. Bây giờ nghĩ lại cũng hay, nhưng lúc đó thì không phải như thế! (Anh Nguyễn lại cười hóm hỉnh).

Cách đây đúng 44 năm. Có thể nói tính từng năm, từng tháng, từng ngày và nếu không ngoa thì có thể từng giờ. Vì cũng đúng cái chiều hôm nay (chiều hôm ấy lúc tôi ngồi hỏi chuyện tại nhà anh Nguyễn là chiều 31-12-1985) một người lính tập giải tôi từ Sở mật thám Nam Định lên Hà Nội, đến đây là vừa đúng hết năm tây 1941. Mình đi bộ theo người lính tập, thấy xung quanh mọi người đạp xe mang hoa đến sở Tây để biếu các sếp. Tối nó ký tôi vào Hỏa lò. Sáng hôm sau, đúng Tết Tây, người lính tập lại áp giải tôi đi tù, đi bộ qua thị xã Hòa Bình, qua Vụ Bản rồi lên Nho Quan. Cũng chuyến đi căng ấy, có rất đông nhóm “Ngày nay”, họ đi bằng ô tô.

Thế là được ăn một cái Tết tây trên đường đi căng cùng với một anh lính tập! Bây giờ thì có thể uống rượu mà nhớ lại cái kỷ niệm ấy và coi như một chuyện vui chứ gì nữa! (Lúc này, anh Tô Hoài, vừa đi họp với đại biểu nhân dân Thủ đô để báo cáo về cuộc họp Quốc Hội, ghé vào. Chị Tuân mang ra một đĩa lòng gà mới luộc đang bốc khói. Anh Nguyễn mời anh Tô Hoài cạn chén rượu, còn tôi thì được uống bia.

Tôi vẫn còn muốn khai thác tiếp nên trong lúc những người uống rượu uống tiếp thì tôi vẫn tiếp tục hỏi)

HỎI: Một nhà văn chuyên nghiệp thường có ba việc chính là đi, đọc, viết. Vậy xin Anh cho biết cụ thể ở anh công việc đó được tiến hành như thế nào? Ở Anh hình như việc viết văn làm báo cũng không tách rời nhau bao nhiêu?

ĐÁP: Đúng là cái nghề viết văn cũng chỉ quanh quẩn ở ba việc: Đọc, đọc sách của nước mình và phải đọc nhiều của nước ngoài, phải đọc cả Đông, Tây, Kim, Cổ. Còn đi thì đối với tôi, người ta đã coi như một cái bệnh - bệnh xê dịch. Trong nước tôi đã đi khắp, lên đến chóp Lũng Cú. Cao nhất là đỉnh Phăng-xi păng cũng đã leo đến nơi rồi, nhưng còn mũi Cà Mau thì chưa ra tới. Hồi chưa giải phóng có về đến thị xã Minh Hải nhưng đò giang khó khăn, tôi chưa ra được đến đất mũi. Chính ra, nhà văn cần phải đi rộng nữa ra cả thế giới, đi theo kiểu đi du lịch cơ. Tôi cũng vào loại được đi ra nước ngoài nhiều nhưng chỉ đi họp hành, tham quan, nghỉ mát đó chưa phải lối đi hay nhất của nhà văn. Còn việc viết là tất nhiên rồi. Có khi cả ba việc cùng làm được, có khi chỉ làm hai việc và có lúc chỉ làm một việc. Tôi nhớ, tôi có viết một câu như thế này: “Đi để mà viết, viết để lấy cái mà đi, có đồng nào cho đi hết!” (Anh Nguyễn lại chậm rãi châm thuốc lào và rít một hơi rõ kêu. Tôi cứ tưởng anh chỉ nói thế, định hỏi thêm thì anh như sực nhớ lại, từ tốn kể tiếp)

Hồi ở tù về, bà cụ muốn giữ chân mình ở nhà, mới lấy cho bát họ để mở hiệu sách. Tôi làm đại lý cho các báo: Trung Bắc Tân Văn, Thanh Nghệ Tĩnh, Tiểu thuyết thứ bẩy... và cũng làm luôn chân thông tin viên cho các báo. Cứ mỗi tin của tôi đăng ở trang nhất thì Trung Bắc Tân Văn trả cho hai xu một dòng, đăng ở các trang sau thì cứ hai dòng một xu (hồi đó một bát phở giá hai xu).

Tôi nhận viết cho nhiều báo; dần dần viết truyện feuilleton rồi nhận một chuyên mục cho tạp chí Tao Đàn, số nào cũng phải có một bài. Chính viết những bài cho chuyên mục Vang và bóng một thời ở Tao Đàn sau này tập hợp lại thành sách, bỏ chữ và đi thành Vang bóng một thời. Truyện ngắn đầu tiên của tôi đăng ở báo Đông Tây của Hoàng Tích Chu lấy tên là “Bể hoạn bao giờ bằng lấp” nhằm chửi bọn quan lại. Cái tên nghe rất biền ngẫu vậy mà Hoàng Tích Chu đã trả tôi ba mươi đồng nhuận bút về cái truyện ngắn đó. Chả là hồi này Hoàng Tích Chu mới ở Pháp về, muốn khuyến khích thể văn xuôi mới để chống lại lối văn phú lục (hồi đó ăn cơm tháng thật sang chỉ mất 3đ5 một tháng: một bộ complet bình thường giá 25đ).

Đối với tôi việc làm báo và viết văn luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ, có khi nó là một. Tất nhiên báo chí đòi hỏi tính kịp thời, chất thông tấn, nhưng bài báo hay, có tính nghệ thuật mới đi vào lòng người được. Người làm báo cũng đòi hỏi phải hiểu biết rộng. Anh mà có nhiều tích lũy, có vốn hiểu biết về văn hóa và đời sống sâu sắc phong phú thì anh càng ứng phó nhậy bén đối với tình hình và viết bài sắc sảo. Lao động nghệ thuật là sự đánh nhau với chữ nghĩa nhưng anh phải tích lũy, phải lao động như thế nào để khi viết ra người đọc cảm thấy nhẹ nhàng. Phải tỏ rõ được sự hàm dưỡng trong bài văn của mình. Đừng lộ cho người đọc thấy mình phải thở hồng hộc, bở hơi tai ra. Đúng là mình phải bở hơi tai làm việc cật lực, nhưng để đem đến cho người đọc một bài văn nhẹ nhàng, thanh thoát. Đọc xong bài văn, câu hết chữ rồi, nhưng ý vẫn còn dư.

HỎI: Xin anh cho một vài lời khuyên đối với người viết trẻ?

ĐÁP: - Phải đọc nhiều. Đi thực tế là cần thiết nhưng chưa phải là đủ. Phải đọc nhiều đọc rộng thì mới có kiến thức để lý giải những điều mình thấy. Theo tôi vốn đọc sách cũng là một nguồn thực tế. Đó là một cách tích lũy thực tế qua kinh nghiệm của người khác.

- Về viết thì tôi muốn nhắc lại lời của hai nhà văn (tôi quên tên) nhưng tôi luôn cố gắng làm theo lời của hai nhà văn đó:

Một người nói rằng: Anh phải viết như thế nào để khi người ta đọc đi đọc lại thật kỹ vẫn thấy không thể thêm vào được một chữ nào.

Nhà văn nói câu sau này tôi cho là đáng sợ hơn: Anh phải viết như thế nào để khi người ta đọc đi đọc lại thật kỹ vẫn thấy không thể bớt đi được chữ nào.

- Về sống: Nhà văn trước hết phải trung thực.

HỎI: Được biết anh thường theo dõi và đọc Tạp chí Sông Hương khá đều đặn. Anh có nhận xét gì về Tạp chí này?

ĐÁP: Ngoài Hà Nội và một số báo ở thành phố Hồ Chí Minh, Sông Hương là tờ tạp chí hay - có nội dung mới, súc tích chịu chấp nhận nhiều phong cách và trình bầy đẹp. Việc in phụ bản đầu kỳ là một cố gắng lớn của anh em làm tạp chí. Tôi biết đó là việc làm tốn kém và mất nhiều công phu, nhưng nó làm cho tờ Tạp chí sang trọng lên nhiều lắm. Tôi rất thích những tranh phụ bản của Phạm Đăng Trí, của Bửu Chỉ, Đinh Cường... Bìa của Bửu Chỉ đã tạo được dáng nét riêng cho Sông Hương. Nên cố duy trì việc in phụ bản. Có khi người ta mua tờ tạp chí là để giữ được một phụ bản quí.

Tòa soạn Sông Hương có những người biết làm báo. Việc ra tờ phụ trương về cơn bão số 8 là việc làm đáng khích lệ. Đáng lẽ các báo khác, kể cả báo Văn Nghệ của chị, phải nhân đó mà tuyên truyền rộng ra nữa để động viên sức người, sức của đóng góp cho Huế và Bình Trị Thiên khắc phục thiên tai. Tôi đọc số báo này một mạch và hết sức xúc động. Con số hơn ba ngàn cây cổ thụ bị đổ trong cơn bão đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với tôi. Tôi nghĩ ngay là phải có một hành động gì đó hưởng ứng với anh em ở Huế. Vì còn đau chân không ra bưu điện được tôi đã bảo cái Giang đi đánh ngay bức điện vào Huế như chị biết đó! Những bức ảnh (tuy còn phải in giấy đen) và những số liệu thông báo kịp thời về sự thiệt hại là rất cần thiết. Đó có thể gọi là sự nhạy bén trong nghề làm báo.

Nhân dịp đầu xuân, nhờ chị chuyển đến tòa soạn Tạp chí Sông Hương và bạn đọc Sông Hương lời chúc khai bút của độc giả Nguyễn Tuân.

Ngọc Trai: Xin cảm ơn Anh đã dành thì giờ cho buổi trò chuyện lý thú này.

NGỌC TRAI thực hiện
(18/4-86)
-----------------
1. Mặc cảm tự ti
2. Mặc cảm tự tôn
3. Hui đò: đưa thuyền lên bờ, dùng rơm đốt dưới đáy thuyền để diệt con hà ăn mòn đáy thuyền.


nguồn:http://tapchisonghuong.com.vn

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011

CÒN NẮNG TRÊN ĐỒI - ĐÔNG HÀ

Mở giấc mơ ra gặp ngay khoảng nắng
nắng còn chạy trên đồi
như giấc mơ một thuở

Thuở ấy em chưa biết yêu
Thuở ấy anh chưa biết già
Thuở đôi ta chưa ngần ngại

Nên nắng hồn nhiên ru bầy cỏ dại
như tình dịu dàng ấm áp bàn tay

Hai mươi năm em xa nơi đây
khoảng nắng long lanh nụ cười con gái
đi đâu đi đâu
để mắt môi bơ phờ ái ngại
để tim mình vỡ xuống thành tro

Hai mươi năm không xa hơn một đời người
nhưng đủ hết một thời áo trắng

Để sớm nay mở giấc mơ gặp nắng
nắng long lanh cười
em ấm cả bàn tay...

TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI CÓ TUỔI - HOÀNG LỘC



anh có tuổi rồi, lòng như con nít
khi không hờn hờn giận giận đâu đâu
chi cũng muốn nhiều mà em cho quá ít
lo cái không nên mà hoá bạc đầu ?

có những bài thơ viết khi nào không nhớ
lật ra dòm - bỗng thấy bóng em trong
có một loài hoa một đời chưa chịu nở
bỗng vì em mà phải nở rất buồn

anh có tuổi rồi, đường trường không bước nổi
đi một hồi - ngồi lại - ngó mây bay
mắt em xanh trong, màu trời vời vợi
cũng vì anh, đã một thuở ai hoài ?

ngày xế bóng bên đồi khô những lá
hành trang anh rơi rớt lại bên đường
mai mốt em qua đây khi rối bời tóc gió
chắc bồi hồi biết mấy những cành không...

HL

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2011

BÓNG HOA XƯA - HẠC THÀNH HOA

Người đến dịu dàng như ngọn gió
Người đến mơ hồ như ánh trăng
Đêm xanh một đóa Quỳnh hoa nở
Trắng ngần mấy cánh mỏng như sương.

Đóa hoa chỉ nở trong chớp mắt
Rồi lặng lẽ tàn lúc nửa đêm
Gió đã đi rồi trăng cũng lặn
Bình minh ngơ ngẩn dáng sương mềm.

Đóa Quỳnh đã lặn vào đêm tối
Tưởng đâu khép cánh ngủ muôn đời
Những đêm trời đất mênh mông quá
Lại trở về trong bóng nguyệt soi.

GIỚI THIỆU CD LẼ NÀO EM THƠ NGỌC LÂM – HÀN PHONG VŨ

GIỚI THIỆU CD  LẼ NÀO EM
THƠ NGỌC LÂM – HÀN PHONG VŨ


 Được sự tài trợ giúp đỡ của Cô Đăng Lan, cùng bạn bè và các nghệ sĩ ngâm thơ: Thu Thuỷ, Ngọc Quang, Đức Tâm, Đài Trang.
CD thơ của Ngọc Lâm – Hàn Phong Vũ đã thực hiện thành công tốt đẹp.
Xin chân trọng giới thiệu tới khán giả yêu thơ gần xa đón mua và thưởng thức sự sâu lắng êm đềm của những bài thơ hay với giọng ngâm ngọt ngào truyền cảm của các nghệ sĩ qua CD Thơ Lẽ Nào Em.
CD được bán tại phòng bán sản phẩm của Nhà May Mắn. Mời quý vị xem mua..
Địa Chỉ
Shop Maison - Chance
Trung Tâm Chắp Cánh
19A, Đ. Số 1, Khu phố 9, P. Bình Hưng Hòa A
Q. Bình Tân, Tp.HCM
Xin chân thành cảm ơn..


NGỌC LÂM – HÀN PHONG VŨ
SĐT: 0989272896








Hồi sinh cùng những vần thơ

Hồi sinh cùng những vần thơ

SGTT.VN - 500 ấn bản thơ đầu tay được bán hết chỉ sau hai tháng phát hành, đó là niềm hạnh phúc không nhỏ cho bất kỳ cây viết trẻ nào. Nên có thể hình dung niềm hạnh phúc ấy càng lớn biết bao, khi tác giả là một thanh niên chỉ còn 3% sức khoẻ…
Giữa lằn ranh cái chết

Mất cả năm Lâm mới có thể gõ bàn phím bằng cùi ngón tay út, rồi tập rê chuột bằng cách ôm con chuột bằng cả hai tay. Tập thơ Lẽ nào em... của Nguyễn Văn Lâm với bút danh Hàn Phong Vũ. 

Hình ảnh

Ảnh: Hương Vũ


Năm 2003, tốt nghiệp phổ thông, Nguyễn Văn Lâm rời vùng quê nghèo Hậu Lộc, Thanh Hoá vào TP.HCM, mang theo giấc mộng chinh phục giảng đường đại học. Lâm làm đủ thứ việc, phiêu dạt lên tận Bình Phước làm rẫy, ban ngày vắt sức kiếm tiền, ban đêm mày mò tự ôn luyện. Chín tháng sau, cậu đậu vào đại học Sư phạm Bình Phước. Thế nhưng, vừa trải nghiệm cuộc sống sinh viên được đúng ba tháng, một tai nạn đột ngột suýt chút nữa đã cắt ngang cuộc đời cậu…

Đêm 20.11.2004, Lâm chạy xe máy qua đoạn rừng cao su thuộc địa phận xã Long Tân (Bình Phước) để đón người nhà. Đường tối đen, một xe tải chạy ngược chiều với tốc độ rất nhanh lấn sang trái khiến Lâm hốt hoảng lách vào lề. Chiếc xe máy ngã lăn, hất Lâm té xuống ven đường, cố gắng lắm cậu cũng không thể gượng dậy nổi. Suốt cả tiếng đồng hồ sau, cứ thấy có xe lướt qua cậu lại kêu cứu, nhưng tiếng kêu quá yếu ớt nên không ai chú ý. Chờ hoài không thấy Lâm về, người nhà bủa đi tìm mới phát hiện được, vội chở cậu tới trạm xá xã Long Tân cấp cứu, rồi được chuyển gấp lên bệnh viện đa khoa Bình Phước. 



Kết quả chụp phim cho thấy Lâm bị vỡ đốt sống cổ C3-C4, nếu không chuyển lên tuyến trên nhanh chóng thì khó qua khỏi trong đêm. Hai ngày sau, Lâm tỉnh dậy tại bệnh viện Chợ Rẫy, các bác sĩ thông báo Lâm phải làm thủ thuật kéo tạ để kéo đốt sống cổ giãn ra trước khi phẫu thuật. Để bắt ốc vít vào xương sọ Lâm, các bác sĩ khoan hai lỗ nhỏ tại phần khớp ngay kẽ xương hàm và xương sọ rồi treo một quả tạ nặng 12kg vào đó trong suốt bảy ngày. Lâm hồi tưởng: “Suốt bảy ngày ròng em nằm la hét trên giường, đau đớn cùng cực nhưng bác sĩ giải thích nếu dùng thuốc ngủ hay thuốc mê thì em sẽ không bao giờ tỉnh dậy…” Sau bảy ngày, Lâm được phẫu thuật đặt nẹp bó xương cổ. Ca phẫu thuật diễn ra trong suốt 12 tiếng đã thành công. Thế nhưng 45 ngày trong phòng chăm sóc đặc biệt, Lâm vẫn sống đời thực vật, thở bằng bình oxy, ăn uống qua ống thông thực quản. Nằm quá lâu, một bên phổi Lâm bị viêm, hàng ngày phải dùng máy hút đờm...
Cả gia đình Lâm luôn trong tư thế chờ đợi tin xấu nhất.

BS PHẠM NGỌC CÔNG, KHOA CỘT SỐNG A, BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH TP.HCM:
Nguyên tắc trong điều trị chấn thương làm sai lệch cấu tạo giải phẫu cột sống cổ là bắt buộc phải trải qua thủ thuật kéo nắn trước khi giải phẫu. Tuỳ theo tổn thương và tính chất bệnh mà thời gian và trọng lượng tạ kéo nắn sẽ được tính toán cho phù hợp. Việc kéo vòng sọ đầu sẽ gây đau và khó chịu tuỳ mức độ nhạy cảm của bệnh nhân, nhưng lại là bước rất quan trọng trong quá trình điều trị nên rất cần sự hợp tác và phối hợp đầy đủ của bệnh nhân cùng các bác sĩ điều trị.

Vậy mà điều kỳ diệu cũng xảy ra, Lâm từ từ hồi tỉnh. Cậu được chuyển qua điều trị vật lý trị liệu tại khoa tuỷ sống – phục hồi chức năng, bệnh viện Điều dưỡng quận 8. “Em như một đứa trẻ phải tập ngồi, đứng, lật nghiêng, nằm… 17 tháng sau tai nạn, đôi tay chỉ nhúc nhắc cử động mà chẳng thể cầm nắm được gì. Kết quả giám định cho thấy em mất 97% sức khoẻ. Không chấp nhận mình đã là người tàn phế, em đã nghĩ tới cái chết. Nhưng nghĩ tới gia đình đã hết lòng chạy chữa, lại không đành lòng…”, Lâm nhớ lại.
“Vịn câu thơ mà đứng dậy”
17 tháng gồng mình lo mọi chi phí điều trị cho Lâm, gia đình cậu lâm cảnh khánh kiệt. Trong lúc bế tắc, Lâm gặp được Tim Aline, người phụ nữ Thuỵ Sĩ từ 20 năm nay đã tới Việt Nam cưu mang hàng trăm con người bất hạnh. Tim Aline đưa Lâm tới mái nhà May mắn của mình để cậu được tiếp tục điều trị, và giúp cậu học quản trị mạng. Hiện nay, Lâm đã có việc làm ổn định tại một công ty chuyên quảng cáo trên mạng.
Từ ngày bị tai nạn, những lúc buồn Lâm thường tìm đến thơ để giải toả những tâm sự trĩu nặng trong lòng. Lâm viết: Ta sẽ sống với niềm tin, hy vọng / Lãng quên kiếp người /bao ngang trái buồn đau/Thả dòng thơ chảy vào đời tươi sáng/Rạng rỡ ngày/ánh mai/gọi bình yên!… (bài Không thể làm phế nhân). Những bài thơ cứ ngày một nhiều, cậu tìm tới với những người bạn yêu thơ trên các diễn đàn mạng để chia sẻ. Tháng 8.2011, một mạnh thường quân đã tài trợ giúp Lâm xuất bản 500 ấn phẩm thơ đầu tay với tên gọi Lẽ nào em…, được Lâm ký bút danh Hàn Phong Vũ. Hiện cậu đang xây dựng kế hoạch sang năm sẽ cùng hai người bạn xuất bản một tập thơ mới. “Mỗi người chỉ sống được có một lần, nên em muốn nhắn gửi tới mọi người rằng, hãy cố gắng sống cho thật ý nghĩa, dù trong bất cứ nghịch cảnh nào…”, Lâm chia sẻ.
BÀI VÀ ẢNH: HƯƠNG VŨ
16/10/2011

NGUỒN: BÁO SGTT http://www.sgtt.com.vn/Khoe-va-Vui/155708/Hoi-sinh-cung-nhung-van-tho.html

ĐỌC TẬP THƠ LẼ NÀO EM CỦA HÀN PHONG VŨ, NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN, NĂM 2011

ĐỌC TẬP THƠ LẼ NÀO EM CỦA HÀN PHONG VŨ, NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN, NĂM 2011
                Nguyễn Văn Hoà
                                                                             
Hàn Phong Vũ(tên thật là Nguyễn Văn Lâm, sinh năm 1985, nguyên quán: Thanh Hóa, trú quán:Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh) là một cái tên không còn quá xa lạ đối vớinhững người quan tâm đến văn chương ở miền Nam.

Lẽ nào em của Hàn Phong Vũ không hẳn là tập thơxuất sắc, vẫn có những bài bình thường, những bài chưa thật sự hay theo đúngnghĩa của nó. Nhưng người đọc cũng dễ dàng tìm thấy những câu thơ hay, nhữngbài thơ hay. Cả tập thơ có 55 bài thì thơ lục bát chiếm đến 45 bài. Vì thế tacó thể coi đây như một tuyển thơ lục bát của tác giả trẻ này. 55 bài thơ đượcchắt chiu, được nuôi dưỡng, được sản sinh bởi một tâm hồn yêu văn chương mộtcách cháy bỏng, hết mình, yêu một cách tận cùng. Sự ra đời của tập thơ Lẽ nào em tôi cho đó là sự nổ lực quátuyệt vời của Hàn Phong Vũ. Anh từng tâm sự: "Lẽ nào em được ấp ủ, được nung nấu từ lâu nhưng chưa có điều kiệnxuất bản, mãi đến năm 2011 được sự tài trợ của học bổng Phạm Trường Tân, sựquan tâm giúp đỡ chí tình của các cô chú ở NXB Thanh Niên mà tập thơ đã được rađời”.
Có thể nói bằng chính niềm tin và nghị lực phi thườngcủa một người tàn tật, Hàn Phong Vũ đã làm cho chúng ta phải thực sự khâm phụctrước sự vượt qua những khó khăn, trở ngại; những đau đớn về mặt tinh thần cũngnhư thể xác của anh trước cuộc đời này.
Hàn Phong Vũ là người không may mắn và gặp rất nhiềunỗi đau: nỗi đau vì ước mơ dang dở không thành, đau vì bị tật nguyền, đau vì xacha mẹ và người thân, đau vì xa quê hương, đau vì tình yêu trắc trở không thành… Chính những nỗi đau ấy nó đi vào thơ anh như một sự giãi bày, như một sự trảilòng mình ra. Vì vậy, những vần thơ hồn nhiên, mộc mạc, giản dị cứ dạt dào tuônchảy theo dòng cảm xúc của một con người có trái tim đa sầu, đa cảm.
Vốn là người con của đất Thanh Hóa, một vùng đất giàutruyền thống văn hóa, nơi sản sinh nhiều nhân tài cho đất nước. Cái nôi ấy nóđã hun đúc, đã tạo nên trong anh một cốt cách, một tâm hồn, một con người giàulòng trắc ẩn và có nhiều ước mơ, nhiều hoài bão!
Từ Thanh Hóa anh vào Miền Nam học ĐHSP là anh đang thựchiện cái ước mơ cao cả của cuộc đời mình, học để được làm một thầy giáo, đem cáichữ về vùng quê nghèo xã Thành Lộc, huyện hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa giảng dạy cholũ trẻ quê nhà. Nhưng tai họa lại bất ngờ ập đến với Hàn Phong Vũ. Năm 2003 vàoBình Phước nhập học thì cuối năm 2004 anh bị tai nạn giao thông và liệt tứ chiphải nằm một chỗ. Từ năm 2004 đến nay- sau 7 năm trời xa quê, xa nhà, xa ngườithân, xa bè bạn … những ký ức, niềm thương, nỗi nhớ lại tràn về trong thơ anh.
Đó là cái nhớ da diết về vùng quê nghèo của mình vớinhững hình ảnh ruộng đồng, sông nước, những kỷ niệm một thời … và niềm khao khátđược trở về mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn.
Trời cao-biển rộng mênh mông/ Non xanh- nước biếc thắm nồng tình quê/ Mơ trên sóng nướctrở về/ Quê xưa- chốn cũ say mê một thời …
                                                                                 (Trở về)
Niềm mong ước thật bình dị, đơn sơ là trở về với nhữngkỷ niệm với thầy cô, bè bạn, ký ức tuổi thơ bên cánh đồng, những buổi chiềugánh nước tưới khoai và những cái tết quê ấm áp tình người … Hơn ai hết, HànPhong Vũ đã thấm thía giá trị đích thực và hết sức thiêng liêng đó. Ngô GiangTiệp đời Thanh đã rất có lý xem "thơ làtiếng lòng”. Những bài thơ của Hàn Phong Vũ chính là những tiếng lòng thathiết, nghẹn ngào. Anh đã từng khẳng định: "Tiếngnói thơ tôi là những gì muốn gửi cho đời, cho quê hương, gia đình, bạn bè, cũngcó khi là cho tình yêu cả nỗi đau và hạnh phúc của con người trong cuộc đời vàbản thân mình. Nó xuất phát từ sự trải lòng và trải nghiệm của tôi trong cuộcsống thường nhật vốn lắm nhịp điệu này”.
Những vùng đất mà Hàn Phong Vũ đã đi qua giờ đây nó đãđể lại trong anh những ấn tượng, những điều thú vị, gợi lên trong anh bao suyngẫm và tự hào. Đặc biệt là xứ Thanh quê anh và Hà Nội- mảnh đất hồn thiêng,trái tim yêu của Tổ quốc. (Xứ Thanh ơi, Hà Nội trong tôi)
Anh nhớ đến cồn cào cái gió mùa đông nơi đất Bắc, anhnhớ đến người cha lam lũ, người mẹ tảo tần, tất bật ở quê. Nỗi nhớ cha mẹ nóthường trực trong anh và trở thành niềm đau quặn thắt, rát lòng. Anh biết ơnsâu sắc đến công ơn sinh thành, dưỡng dục, sự chở che, tấm lòng bao dung khôngquản nắng mưa, giông bão của bố mẹ mình.
Con thươngcha một đời gánh nặng
Một đời chưathanh thản mấy khi
Đôi mắt quầngvà sâu tối đường mi
Rát lòng conchẳng biết phải làm gì!
                                                         (Cha)
Con thươngMẹ, tấm thân gầy
Mùa đông giárét bàn tay tím bầm
                                                    (Mùa đông nhớ mẹ)
Là một người con hiếu nghĩa Hàn Phong Vũ muốn mình sẽlàm nhiều điều cho bố mẹ mình nhưng với tấm thân tật nguyền, đau yếu và sốngkiếp tha hương tác giả chỉ biết nói những lời cầu mong, thành kính tận trongsâu thẳm đáy lòng mình để gửi về. Anh cũng biết rằng ở nơi quê nhà lam lũ kiabố mẹ anh cũng đau xót và ngóng trông, lo lắng cho anh nhiều lắm!
Đời con mangkiếp tha hương/ Làm sao gửi trọn lời thương về người/ Nơi đây con khấn lạy trời/Cầu mong cho mẹ một đời bình an/ Bao năm đau đớn tâm can/ Quê xa dáng Mẹ võvàng ngóng trông.
………………………………………………………
Con mong Mẹsống an lành/ Để con có mẹ như cành liền cây/ Mẹ ơi! Con hứa một ngày/ Con vềbên Mẹ sum vầy sớm hôm …
                                                                      (Ngày lễ Mẹ)
        Để rồi anh lại thảng thốt cất lên tiếngnói nghĩa tình thiêng liêng về mẹ:
            Mẹlà dòng suối ngọt ngào
Cho con tắmmát thuở nào tuổi thơ
Mẹ là bài hátvần thơ
Ru con ngongiấc mộng mơ nồng nàn
Mẹ là câu hátdân gian
Cho con thấuhiểu gian nan cội nguồn
Mẹ là biểnrộng mênh mông
Cho con vượtkhó thành công trên đời
Là quê hương,là muôn nơi
Nghĩa là tấtcả cuộc đời của con!
                                                                    (Lục bát về mẹ)
Cái hay của Lẽ nào em đó là một tập thơ với dunglượng vừa phải, câu chữ mộc mạc, giản dị, dễ hiểu. Nó lột tả hết những cung bậctình cảm của người viết, đó là những tình cảm- cảm xúc chân thành xuất phát tậntrong sâu thẳm tâm hồn, trái tim của người viết.
Sống xa nhà, xa quê, xa người thân, xa bạn bè đã lànỗi buồn. Với Hàn Phong Vũ nỗi buồn ấy nó nhiều gấp bội phần so với người khác.Vì anh là người bị liệt tứ chi. Có lúc anh cũng cảm thấy tuyệt vọng. Nhưng vẫncòn đó niềm tin và tình thương yêu của những người xung quanh đã giúp anh có đủbản lĩnh và nghị lực để sống và làm việc.
Bao năm lòngvẫn nhủ lòng
Phải vươn lêngiữa mênh mông cuộc đời
Nén lòng đau,gắng mỉm cười
Mượn thơ gửigắm những lời trái tim
………………………….
Đôi khi lòngthấy héo hon
Trái tim gõnhịp lỗi con đường tình
Thế rồi lạinhủ lòng mình
Phải vuisống, đón bình minh mỗi ngày
                                                      (Nhủ lòng)
        Hay ở bài Cảm tác đời tôi, anhviết:
Bảy năm đauđớn âu sầu/ Tưởng chừng đã chết từ lâu mất rồi/ Nhờ ơn nhân thế, ơn trời/ Trongcơn nguy khốn gặp nhiều ân nhân/ Được người cho sống nương thân/ Ta như đượcsống lại lần thứ hai.
Trong số những người đã cưu mang, giúp đỡ anh tronglúc nguy khốn nhất. Người có trái tim cao cả, tấm lòng thương người vô bờ bến. Ngườiđã che chở anh và bao mảnh đời bất hạnh khác có cuộc sống yên vui. Đó chính làmẹ Tim. Vì vậy, anh viết về mẹ Tim với một tình cảm đặc biệt, sự thành kính vàbiết ơn, anh coi mẹ như là vị tiên, một vị thánh sống, là tấm gương sáng rạngngời …  
Mẹ đã xâyngôi Nhà May Mắn
Cho chúng conđược sống yên vui
Trong ngôinhà thân yêu nho nhỏ
Tình thươngMẹ luôn hiện hữu tràn đầy.
                                               (Bài thơKính tặng mẹ Tim!)
Chiêm nghiệm cuộc đời mình, và những gì đang diễn ratrong cuộc sống, bằng trái tim yêu thương, anh cảm thông sâu sắc với những đứatrẻ mồ côi,  những người bạn tật nguyền, nhữngngười nghèo, những phận người bé mọn trong cõi nhân sinh này.
Sinh ra đãkhông còn cha mẹ
Vào đời bằnghai chữ mồ côi
Em lớn lêntrong tình thương của đất
Và bao dungrộng lượng của trời.

Chẳng đượchưởng tình yêu cha mẹ
Tuổi thơ emlay lắt giữa dòng đời
Ai người sốngtuổi thơ cô độc
Mới cơ chừngthấu cảnh mồ côi.
                                            (Cần một tình thương)
Thương bạn sốphận điêu tàn
Xác thânhoang phế vô vàn đớn đau
Anh thương người để rồi lại tự thương mình : Thương người, thưong số phận mình/ Cùngchung phận số duyên tình xa xôi
                                                      (Tặng bạn Huệ Nguyên)
Mở đầu tập thơ Lẽ nào em là bài Trởvề, kết thúc là bài Tìm em. Đó là một cuộc hành trình đitìm lại những kỷ niệm sáng trong, bình dị. Đó là niềm đau, nỗi nhớ đến cháylòng của một người con xa quê. Trong cuộc kiếm tìm ấy có một đối tương mà anhcũng thường hướng đến đó là EM- người con gái-một tình yêu không trọn vẹn, đủđầy. Một sự hụt hẫng, trống vắng, chông chênh đến lạ. Có đến khoảng 1/5 số bàitrong tập thơ đề cập đến vấn đề này.
Hàn Phong Vũ gắn bó với đời, khao khát giao cảm vớiđời mà vẫn cô đơn. Dù rằng có lúc anh muốn trốn chạy nỗi cô đơn nhưng vẫn khônglàm sao thoát khỏi bàn tay nghiệt ngã của nó.
Con người đa tình ấy có những mối tình, những tình cảmvới EM nhưng nó lần lượt đến rồi đi để lại cho anh một sự cô đơn, ngơ ngác giữacuộc đời. Những vần thơ ai oán đó của Hàn Phong Vũ nó hàm chứa cả sự trách mócnhẹ nhàng.
Tình ta giờhóa hư không/ Em quay lưng bước theo chồng ra đi/ Từ nay hai đứa chia ly/ Bàithơ anh tặng nhớ gì không em?/ Chiều thu lá rụng bên thềm/ Lá vàng lá đã chếtbên đời rồi.
                                                             (Bài thơ tôi viết trao em)
Mình tôiriêng một góc trời/ Em giờ đã bước theo người giàu sang/ Nhìn thu lá rụng rơivàng/ Riêng tôi một góc, trời tan tác trời …
                                                               (Riêng một góc trời)
Đằng sau những bi kịch ấy có lúc anh cũng tự cảm thôngcho em, rồi dằn vặt với chính mình. Anh cầu mong ở phương trời kia em sẽ sốnghạnh phúc và chỉ cần em nhớ những kỷ niệm đẹp đẽ một thời, nhớ đến những vầnthơ anh gửi … Bởi vì, anh không thể níu giữ em lại được nữa rồi:
Đời ta có nợ,không duyên
Thôi đừng kéoníu muộn phiền người ơi!
                                                                   (Biết rằng)
Trong đau đớn tột cùng có lúc anh tự hỏi Lẽnào em? Những câu hỏi chứa đựng sự suy ngẫm, trăn trở, xót xa. Conngười cá nhân cô độc, đang mang nặng một khối sầu.
Hỡi người yêubé nhỏ ơi!/ Lẽ nào em đã xa tôi thật rồi?/ Lẽ nào tình đã chia đôi/ Lẽ nào emđã cắt rời tình tôi?/ Lẽ nào tôi phải đơn côi/ Lẽ nào em chẳng nói lời chialy?/ Lẽ nào em vội ra đi/ Lẽ nào em chẳng chút gì vấn vương?/ Lẽ nào tình đãtang thương/ Lẽ nào ngày tháng yêu đương không còn?/ Lẽ nào tình đã héo mòn/Hôm qua tình đẹp như con trăng đầy.
Người đọc có thể tìm thấy trong tập Lẽnào em tần số lặp lại dày đặc những từ nói về nỗi buồn, nỗi chia ly, sựxa cách nhớ thương, hoài niệm, sự khao khát trở về, khao khát tìm lại những kỷniệm xưa … Những tình cảm chân thành được giãi bày, được gọi tên như chính contim anh mách bảo. Tình cảm ấy được chuyển tải qua lớp ngôn từ bình dị, mộc mạc,dễ hiểu, không màu mè hoa lá … Phải chăng đó là điều làm nên cái độc đáo và hấpdẫn của tập thơ Lẽ nào em của Hàn Phong Vũ.

                           Nguyễn Văn Hoà
   Giáo viên Trường phổ thông cấp2-3 Xuân Phước,
                     huyện Đồng Xuân, tỉnh PhúYên