Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

Truyện ngắn - Cho em quên tuổi mộng



  CHO EM QUÊN TUỔI MỘNG

  
Khi chúng tôi đang học lớp 11 thì cả trường đã nhốn nháo chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp phổ thông.Sau đó là thi vào đại học, chúng tôi ra sức học đêm ngày.Thi vào đại học đối với chúng tôi không quan trọng bằng kỳ thi tốt nghiệp phổ thông. Nó giống như một thắt gúc cuối cùng để đánh giá sự trưởng thành của bọn hoc trò chúng tôi,đây là thời điểm của những năm 84-85. 
Lúc đó tôi chơi với hai cô bạn thân Liên và Thảo.Đó là hai cô bé xinh đẹp nhất lớp.Liên gốc Huế nhu mì nết na,một vẻ đẹp rất cao sang đài các.Tánh Liên kín đáo và duyên dáng trong từng cử chỉ ,lời nói.Với Liên mọi thứ phải chừng mực đủ đầy. Liên cứ như chị cả của chúng tôi ấy. Bọn con trai trong trường rất nể sợ Liên.Chẳng có đứa nào dám lé phé.Liên là trưởng lớp,mọi việc vào tay Liên được sắp đặt đâu vào đấy gọn ghẽ.Liên học giỏi lại khiêm nhường,thầy cô giáo và bạn bè đều quý mến Liên,đồng thời cũng kiêng dè nể sợ.Cô giống như một hòn đá thần bí,xa cách , hoàn hảo. Tôi chưa từng biết có anh con trai nào dám tỏ tình với Liên. 

Thảo thuộc gia đình gốc Bắc di cư,đẹp rạng rỡ ,đa tình.Với ai Thảo cũng ngọt ngào da diết.Cô mà mở miệng nói toàn những lời hoa mỹ,khách sáo khiến ai cũng đắm say ngơ ngẩn.Tất cả bọn con trai trong lớp đều có tình với Thảo. 
Nhưng riêng tôi thì tôi biết,bề ngoài trông Thảo vậy thôi, bên trong lại là một bà chúa lạnh lùng kiêu hãnh.Lúc nào cô cũng tạo cho mình một nguyên tắc bất thành văn.Chiếu theo cá tính và ngày sinh nhật chúng tôi sắp xếp ngôi thứ. 
Liên là đại tỷ ,Thảo là nhị tỷ còn tôi là bé út.Hai chị cưng chìu tôi đồng thời cũng hạch sách tôi mọi thứ,ăn hiếp tôi cũng có.Tôi rất vui theo sự sắp xếp của hai bà chị bất đắc dĩ đó.Trong mắt hai chị ,tôi chỉ là con bé lóc chóc hỉ mũi còn chưa sạch mà ! 
Nhà họ giàu có hơn nhà tôi ,lại là dân sống Sài Gòn lâu năm ,tôi được hai chị ấp ủ bảo bọc ai dám ăn hiếp tôi? 
Có món gì ngon ,thứ gì đẹp họ dành phần cho tôi. 
Tôi lóc chóc với ai kia chứ với hai chị thì tôi cũng biết nịnh ra trò.Tôi thường xuyên làm nũng với hai chị,tôi đang có cả thế gian trong tay mà.Gia đình ba đứa chúng tôi bàn nhau,thuê thầy giáo về dạy kèm cho chúng tôi.Thầy giáo được mời là một anh chàng sinh viên trẻ măng,thầy đang học năm thứ tư của đại học sư phạm.Giáo Nam chỉ hơn chúng tôi chừng 5-6 tuổi chứ bao nhiêu.Bữa đầu tiên ra mắt học trò thầy bẽn lẽn như con gái...Suốt buổi học thầy không dám nhìn thẳng mặt chúng tôi.Gần hết giờ học tôi bưng mời thầy ly trà đá,thầy cứ cúi gầm mặt xuống trang vở... 
-Cám ơn các cô ! 
-Hả? tôi nhìn các chị ngơ ngác.Thầy vừa nói gì vậy? 
-Ô không ! chết thật ,ý tôi nói là cảm ơn...các em ! 
Hahaha...3 đứa chúng tôi cùng bật cười,thầy luýnh quýnh làm trà sóng sánh ra cả áo... 

Khi thầy đi về rồi ,Liên trách chúng tôi : 
-Hai đứa không được ăn hiếp thầy nghe chưa ?không thôi thầy giận không thèm dạy chúng ta nữa đó. 
Thảo cong môi cãi lại 
-Ai ăn hiếp thầy khi nào...đâu ! mặt mũi thầy đĩnh đạc khôi ngô ghê há !Giọng thầy nghe hơi kỳ kỳ phải không ?nghe như giọng Huế nhưng sao cứ trọ trẹ. 
Tôi lau chau kể : 
-Nghe mẹ em nói thầy gốc Quảng Trị ,ở dưới làng. Chả là mẹ mời thầy là do một người quen giới thiệu mà. 
Chị Liên lên lớp 
-Thầy điềm đạm như rứa,chắc là chững chạc đường hoàng ,tụi mình cố gắng đừng làm rộn thầy nghe ! nhất là nhỏ Mưa đó ,miệng cứ líu lo ,khi nãy em làm thầy bối rối đó. 
-Em à? líu lo hồi nào...?em chỉ bưng nước mời thầy thôi mà. 
Chị Thảo lại tiếp 
-Sao thầy nhác quá chừng đi ! Cả buổi cũng không dám nhìn chị em mình.Lần tới phải hỏi xem thầy đã có vợ chưa ?Thảo nghe nói ở dưới quê mấy anh con trai lấy vợ sớm lắm.Chị Liên gạt ngang 
-Thôi phiền nờ ,cấm có bép xép hỉ ? mi mà hỏi tới hỏi lui thầy ngượng chết, mượn đó ! Chỉ học thôi nghe chưa ,hỏng. 
Giáo Nam lúc nào cũng đúng giờ ,ăn vận chỉnh tề cho ra vẻ ông giáo ấy mà.Có bữa trời nóng quá ,tôi vặn quạt máy chạy phành phạch hết tốc độ.Vậy mà thầy cứ nhễ nhại mồ hôi trông thật tội,lúc nào thầy cũng mặc hai lớp,áo sơ mi ở ngoài ,áo thun lót ở trong.Trời Sài Gòn nóng bức mà thầy ăn mặc kiểu này không ngộp chết mới lạ.Mỗi tuần thầy đến nhà tôi dạy chúng tôi ba buổi.Thỉnh thoảng mẹ có nấu chè đãi thầy.Thầy ăn uống nhỏ nhẻ ,khiêm tốn. 

Gương mặt của thầy theo quan điểm của tôi lúc đó ,cũng thuộc loại điển trai ,sáng sủa mỗi tội hơi góc cạnh quê mùa.Người thầy cao ,ốm có phần xanh xao.Tôi đặc biệt chú ý đến đôi mắt của thầy ,rất sáng.Thỉnh thoảng tôi vẫn ngắm thầy ,thầy biết chứ nên cứ trốn ánh mắt của tôi. Một bữa tôi buột miệng hỏi : 
-Em nghe nói thầy ở dưới quê, sao da thầy trắng vậy? trắng gần bằng da em luôn nè.Thầy ngượng ngùng quay đi nhìn mông ra ngoài cửa sổ, nơi có những vạt nắng chiều xiên xiên tan loãng trên chậu Cúc vàng hoe. 
-Chậu Cúc vàng đẹp quá ! bé Mưa hỉ. 
- Ơ...! người ta hỏi thầy sao da trắng ,thầy lại ngắm Cúc vàng.Thầy cố giấu nụ cười nơi khóe miệng 
- Tại hồi nhỏ thầy vốn yếu đuối,ba mạ thương không cho làm ruộng ,chỉ chú tâm học thôi. 
-Vậy...thầy có...vợ chưa? 
-Chưa...mà sao Bé Mưa cứ théc méc gì đâu kỳ cục. 
-Ơ ! Thì người ta chỉ hỏi thăm gia cảnh thầy thôi mà. 
Thầy mới kỳ đó. 
-E...hèm.Trở lại bài học nhé !Qũy tích của những đường tròn...Thầy giỏi nhất là đánh trống lãng mà. 

Một bữa tôi thấy Thảo hơi lạ ,suốt buổi học chị như không tập trung ,thầy giảng bài mà mắt chị cứ ngó đâu đâu...Tôi đá chân chị dưới bàn. 
-Ái ! Đau nhỏ. Thầy giật mình ,mặt đỏ cau.Tôi nghĩ miên man ,tôi đá chân Thảo mà mắc chi tới thầy. 
-Các em có câu hỏi gì nữa không? 
Hai chị im lặng ,chỉ có tiếng quạt máy chạy vù vù. 
- Hay ta nghỉ giải lao chút nhé ,Bé Mưa nè cho thầy mượn cây đàn được không ? 
- Dạ ! tôi lấy cây đàn treo trên vách trao cho thầy.Đó là cây đàn cũ kỷ của em trai tôi.Thầy dạo khúc mở đầu,những ngón tay thon thon xương xẩu lướt nhẹ trên phím đàn.Tôi nhận ra một niềm đam mê cháy bỏng trên những ngón tay đó.Lúc này thầy không còn dáng vẻ của giáo Nam nghiêm nghị thường ngày nữa.Mắt thầy rực sáng ,mồ hôi nhễ nhại rớt hai bên thái dương.Rồi thầy cất giọng nhè nhẹ êm êm 

em tan trường về ,đường mưa nho nhỏ 
chim non lề đường nằm im dấu mỏ... 






 




Mắt thầy đuổi theo tôi ,tôi hiểu ý cất giọng hòa theo. 

Cây xưa còn gầy nằm phơi dáng đỏ 
Áo em ngày nọ phai nhạt mấy màu 
Âm vang thuở nào bước nhỏ tìm nhau...Tìm nhau... 

Rồi Liên và Thảo cùng cất tiếng hòa theo rất ăn khớp 

Rồi ngày qua đi qua đi...Qua đi... 
Như phai nhạt mờ đường xanh nho nhỏ... 
Anh theo Ngọ về gót giày lặng lẽ buồn tênh... 

Buổi chiều hôm đó ,căn nhà nhỏ bé của chúng tôi thật ấm cúng.Chúng tôi cứ hát theo thầy hết bài này đến bài khác. 
Mẹ tôi thấy lạ từ dưới bếp chạy lên ,ngẩn ngơ nhìn rồi mẹ cũng lẩm bẩm hát theo.Sau buổi hát hò đó ,chị em tôi không còn khoảng cách với thầy nữa.Thầy vẫn ít nói nhưng cười luôn ,đặc biệt là rất hay cười khi tôi nói chuyện,có lúc thầy còn phát biểu : 
-Bé Mưa ni là mưa rơi lá cọ ,lộp bộp nghe vui tai. 
Thầy rất mê Liên ,mỗi khi Liên mở miệng nói điều gì thầy ráng chăm chú lắng tai để nghe.Thỉnh thoảng tôi cứ bắt gặp thầy dõi mắt theo bóng chị.Một lần tôi hỏi chị khi chỉ có hai đứa tôi 
-Liên phải nói cho em biết ,Liên thích thầy phải không? 
- Ui chau ! nhỏ nói cái chi kỳ rứa ? thầy là thầy mà,chết mi đó ! 
-Ê hê ,thầy Nam chỉ kèm thêm tụi mình thôi ,không phải thầy thiệt mô ! 
Chị kéo tôi thật sát vào người chị rồi thầm thì vào tai tôi 
-Mưa không bao giờ được nói mấy chuyện như vầy với Thảo nghe chưa? nếu không Liên giận đó. 

Đến cuối năm đó,Liên theo gia đình đi Mỹ.Trước khi đi gia đình đãi tiệc rất linh đình.Cả buổi chúng tôi không nghe giáo Nam nói câu nào.Thầy như chìm đắm trong suy tư mộng mị.Liên buồn hơn bao giờ hết.Đêm đó thầy ở lại chơi tới khuya ,thầy hát lại bản nhạc Ngày xưa Hoàng thị.Lần này thầy chỉ hát một mình chúng tôi không dám hòa theo, bởi thấy mắt Liên rưng rưng ngấn lệ.Giọng giáo Nam rất buồn ,một nỗi buồn sâu xa ,khép kín. 

Sáng hôm đưa Liên ra phi trường ,thầy không dám đi theo ,viện cớ bận học.Gần đến giờ phải vào phòng trong mà mắt Liên cứ dáo dác tìm thầy.Thảo im lặng đến bất ngờ ,giờ phút cuối cùng Thảo chỉ nói được một câu 
-Biết đến bao giờ mình mới gặp lại nhau đây ? 
Tôi quay đi không dám nhìn hai chị ,tôi mít ướt nhất trong bọn mà ! Tôi mà khóc chắc chắn 2 chị nức nở theo tôi.Mẹ Liên giục đến lần thứ 3 Liên mới quay đi ,chị còn kịp đưa ngón tay trỏ lên môi ám hiệu cho tôi biết mà giữ bí mật. 

Chỉ còn tôi với Thảo,những buổi học trở nên lặng lẽ ,uể oải.Thầy giáo vẫn rất đúng giờ và càng ít nói hơn trước. 
Sau một thời gian dài thầy mới ấp úng hỏi 
-Liên có thư về không các em? 
Tôi liếc xéo Thảo,thấy chị khẽ chớp mắt ra hiệu đèn xanh tôi mới dám trả lời thầy 
-Dạ có ! chị ấy vẫn khỏe nhưng rất ít viết thư.Như là chị ấy rất bận ,phải bắt kịp chương trình anh ngữ.Chị ấy có gởi lời thăm thầy đấy ! 
-Vậy à...à? tiếng à thầy kéo dài nghe buồn mênh mông ,có lẽ thầy chờ đợi một điều gì đó nhiều hơn nữa. 

Chỉ một năm sau đó ,Liên lấy chồng.Chị gởi hình đám cưới về cho chúng tôi xem.Gia đình chị đã nhắm sẵn người chồng đó cho chị từ trước.Đó là một anh chàng không quân người Việt Nam rất đẹp trai.Liên vẫn tiếp tục học đại học dù đã có chồng ,chị học nghành sư phạm.Sau khi lấy chồng không bao lâu thì chị có bầu ,sau khi sanh em bé thì không còn liên lạc thường xuyên với chúng tôi nữa. 

Thảo học kinh tế ,bởi gia đình Thảo muốn vậy.Thật ra Thảo muốn đi vào nghiệp văn chương vì tâm hồn Thảo rất lãng mạn.Khi Thảo đang học năm thứ nhất thì giáo Nam tốt nghiệp đại học rồi về quê.Tôi ,Thảo và thầy đi sở thú chơi một lần cuối cùng.Tôi cố tình giả vờ đi lang thang đây đó để Thảo và thầy có nhiều thời giờ với nhau. Hôm đó họ nói chuyện với nhau rất vui vẻ.Tôi thầm ngắm họ -rất xứng đôi đấy chứ ! có một chiếc lá rơi nằm vướng trên tóc Thảo ,thầy đưa tay nhẹ nhàng gỡ chiếc lá.Thầy giữ lại chiếc lá ép giữa hai bàn tay ,cả buổi tôi thấy thầy cứ mân mê chiếc lá cho đến khi nó vỡ nát trong tay thầy. Họ cứ thao thao bất tận về văn chương ,tôi mãi chơi với mấy chú khỉ con không muốn làm phiền họ.Chờ lâu không thấy tôi ,họ lại đi tìm. 
-Mưa à ! sao cứ chạy lung tung đi đâu? thầy hỏi tôi giọng lém lỉnh.Lúc sau này tôi thấy thầy khác hẳn ,trẻ trung hơn ,tự nhiên thoải mái hơn.Gương mặt đã phổng phao sắc diện hồng hào ,điển trai lắm chứ ! Dầu không còn dạy chúng tôi nữa ,chúng tôi vẫn tiếp tục gọi thầy ,quen miệng rồi.Tuần nào thầy cũng gặp chúng tôi.Lúc này tôi đã có người yêu nên ít khi đi chung với họ.Thầy và Thảo thường xuyên đi chơi với nhau.Hôm thầy trở về quê chỉ có Thảo đưa thầy ra ga xe lửa.Tối đó Thảo ghé nhà tôi khóc nức nở trên vai tôi.Đó là lần đâu tiên chị để tôi làm người lớn ,được an ủi chị.Rồi chị ngủ lại với tôi đêm đó.Chúng tôi thức thâu đêm để nói chuyện 






 




Thảo rất yêu thầy Nam,yêu cái vẻ đỉnh đạc kín đáo ,nghiêm trang của thầy.Thảo rất thần tượng những kiến thức mà thầy có về cõi văn chương.Nhưng gia đình chị rất phong kiến,đời nào lại để chị đến với một anh chàng gốc gác quê mùa như thầy Nam.Gia đình của chị sống bằng những mối quan hệ ngoại giao.Chồng chị phải là một người lịch lãm trong giới làm ăn. 

Gia đình giáo Nam lại nhắm sẵn cho thầy một cô vợ ở dưới quê.Họ chắc chắn sẽ tá hỏa nếu biết thầy yêu một cô gái tân thời như Thảo.Thầy và Thảo chỉ đến với nhau qua văn chương ,họ không dám bước xa hơn.Họ làm thơ với nhau,những áng thơ tình rất đẹp ,rất lãng mạn về mùa thu,về những cơn mưa ,về những cảm xúc bất chợt cho những khúc hát mà họ từng yêu thích. 

Sau đó thì chúng tôi bặt tin thầy. 

Tháng 9 năm 1991,tôi cũng chia tay Thảo.Tôi theo gia đình sang mỹ diện H.O. Vừa qua đến Mỹ tôi lập tức liên lạc với Liên ,chị tức tốc xuống thăm tôi.Tôi ở Little Sài Gòn ,chị ở Sanjose.Bất cứ khi nào có dịp chị đều xuống thăm tôi.Tôi trở thành một phần máu thịt của chị.Hiện chị rất hạnh phúc bên chồng với 2 con.Chồng chị thường xuyên vắng nhà do công việc của anh.Để lấp đầy khoảng trống chị tập cầm viết. 
Chị đang là cô giáo dạy highschool ,các con chị đã vào đại học.Tôi cũng hạnh phúc bên mái ấm nho nhỏ ,bình thường. 
Chỉ tội nghiệp cho Thảo ,cô nàng trắc trở tình duyên. 

Thảo bây giờ là đại gia gốc bự ở đất Sài Gòn.Chồng Thảo làm ăn lớn có công ty riêng.Thảo đương nhiên trở thành bà giám đốc ,chị đi nước ngoài như cơm bữa.Mới hè vừa rồi chị ghé Cali thăm tôi.Chị không thèm ở khách sạn ,mà ở lại nhà tôi.Chúng tôi lại có dịp tâm tình với nhau như xưa.Chị Liên từ Sanjose cũng xuống ,vậy là tôi lấy vacation một tuần để chơi với hai chị.Chị Liên càng ngày càng đẹp mặn mà ,Thảo cũng rất sắc sảo.Thảo xài tiền như nước vậy.Hai chị lại chìu tôi như xưa ,cưng luôn các con của tôi. 
Chồng tôi rất quý hai chị -quý thật lòng.Ngày nào anh cũng cố làm món ngon đặc biệt nào đó để đãi hai người đẹp.Hai chị cứ hay đùa rằng tôi có phước,có chồng hiền như ông bụt ở trong nhà.Ba chị em tôi lại liên tu bất tận thâu đêm suốt sáng. 

Liên hỏi thăm thầy Nam trước 
-Thảo có bao giờ gặp lại thầy không ? 
-Từ khi thầy về quê lấy vợ thì thôi.Thảo vẫn đi công tác ngang vùng quê của thầy hoài ấy chứ !Nhưng gặp để làm chi ?Thảo liên lạc với thầy qua mạng ,vẫn họa thơ cùng thầy.Rồi chị mở web cho chúng tôi xem 
- Á ! sao hai người cứ anh anh em em ngọt xớt vậy ta? tôi giật mình la lên 
-Con khỉ này ,hổng lẽ trong thơ mà xưng thầy với em? Kỳ chết. Rồi chị Liên lại tiếp tục hỏi thăm gia cảnh thầy 
-Nghe nói thầy làm tới chức hiệu trưởng rồi.Cũng khá êm đềm với vợ con ,vợ thầy rất đảm đang.Thầy bây giờ là một cây viết kỳ cựu.Thầy viết rất nhiều truyện ngắn và làm thơ đường luật 
- Vậy mừng cho thầy ,chắc thầy sống hạnh phúc.Chị Liên lẩm bẩm giọng mơ màng. 
Thảo tiếp tục : 
-Có điều này lạ lắm ,trong thơ thỉnh thoảng thầy vẫn nhắc nhở 3 chị em mình.Tuyệt nhiên không bao giờ thấy nhắc đến vợ. Đến đây thì tôi phải láu tau 
-Sao Thảo biết thầy nhắc đến 3 đứa mình ? 
-Dể thôi ,khi thầy viết về Huế ,ca ngợi thành quách cổ kính ,dòng Hương Giang là lúc thầy nghĩ đến Liên.Lúc thầy nhắc đến mùa thu và những bản tình ca,về Sài Gòn là nhắc lại kỷ niệm của Thảo với thầy.Còn lúc thầy nói về những cơn mưa ,đồi núi chập chùng ,hoa quỳ vàng ,hoa ban trắng là lúc thầy nhớ cô Mưa bé bỏng đấy thôi. 
- Ý ! ai mà tin ? thầy chỉ nhớ hai chị thôi ,vì hai bà chị của tui xinh đẹp mặn mà. Em nhỏ xíu xiu lại ngu ngơ ngốc nghếch ,thầy chẳng khi mô nhớ em đâu ! 
Thảo cãi liền 
-Có mà !Thảo nói thật đó ! Trong lòng thầy Mưa rất ngoan ,đơn thuần ,nghịch ngợm hồn nhiên.Thầy nhớ mãi giọng nói líu lo như chim của Mưa.Thấp thoáng trong văn thơ của thầy là bóng dáng của Liên.Có lẽ trong lòng thầy Liên là mẫu con gái hoàn mỹ nhất 
-Rứa còn Thảo ? vị trí nào đây...em không hiểu đâu. 
-Ta là ngon lành nhất dĩ nhiên rồi ,ta chính là hồn thơ của thầy mà.Thầy vẫn sáng tác đều đều là vì ta thôi. 
Liên phán xét : 
-Rứa thì thầy khôn nhất đời rồi.Hoa thơm đánh cả cụm hỉ ? 
Ha ha ha...ha haha...chúng tôi cười nắc nẻ như xưa. 
Sau chầu cười cứng bụng đó ,tôi lại điều tra tiếp 
-Thảo có biết mặt vợ thầy không? cô ấy có xinh đẹp không? 
-Thảo làm sao biết ? thầy chẳng bao giờ tiết lộ gì cả.Có ông nhà văn nào lại không tán vợ đẹp ,Thảo đoán cô ấy lớn tuổi ,Thầy rất nể sợ ,có vẻ tình nghĩa chứ không phải tình yêu đâu.Đôi lúc Thảo cứ cảm thấy như thầy rất cô đơn. 
Thầy viết nhiều kinh khủng, nếu hạnh phúc với vợ lấy đâu ra thì giờ mà viết nhiều như vậy? 
Tôi liền đề nghị 
-Hay bữa nào chị em mình cùng về thăm thầy một chuyến ,mấy chị nghĩ sao? chị Liên gạt ngay 
-Biết tin thầy vẫn khỏe,vẫn sáng tác đều đều thì đã thỏa lòng rồi.Gặp thầy chi cho rối.Hãy để hạnh phúc của thầy được ngủ yên. 
Ánh mắt Liên vẫn cứ mơ mơ màng màng như khi chị còn con gái ,giọng chị vẫn thâm trầm sâu xa ,chị lại nói tiếp 
-Thời gian rất tàn nhẫn ,có thể mọi sự đã thay đổi hơn chúng ta nghĩ.Hãy giữ mãi những hình ảnh đẹp đẽ lúc ban đầu, để thầy còn giữ được thi hứng chứ.Chúng ta đã già ,đàn ông Việt Nam bây giờ rất hư.Biết đâu lại gặp thầy như một anh Hai Lúa ,sáng xỉn chiều say quê mùa luộm thuộm thì có mà hổ ngươi ! 
Thảo đăm chiêu hồi lâu mới lên tiếng 
-Liên nói đúng đó Mưa à ,tụi mình đã tàn phai.Qua thơ Thảo tưởng tượng thầy cũng đã tóc bạc hom hem.Có khi lại ghiền thuốc lá ,ghiền rượu đổ ma men ,thì chết dỡ ! 
-Mưa nhớ ngày xưa thầy đâu có hút thuốc lá ! 
Hai mươi năm đã trôi qua ,tôi vẫn không thể nào hình dung được Giáo Nam đỉnh đạc gọn ghẽ của ngày xưa bây giờ lại trở thành Hai Lúa được. 
-Sao hông nhỏ !Thời gian có thể đổi thay mọi thứ mà ,cũng như nhỏ vậy.Ngày xưa nhỏ nhẹ mít ướt là thế ,bây giờ lại ăn hiếp chồng một cây.Thảo lên tiếng 
-Ơ !em không có ăn hiếp à nha ,tại ảnh cưng nên chìu thôi ,hông tin hỏi ảnh đi. 
-Cần gì phải hỏi ,ta xuống đây hoài ,biết quá mà ! 
-Hai người sướng thật !Rồi Thảo kể cho chúng tôi nghe về gia cảnh của Thảo.Chị không có con,dù Thảo đã cố gắng chạy chữa khắp các bệnh viện. Vợ chồng Thảo chỉ có bề ngoài-tiền của -địa vị và danh vọng.Lúc nào chồng Thảo cũng có mèo.Cho dù Thảo có đẹp đẽ sang trọng cỡ nào vẫn không giữ nỗi người chồng ở nhà.Rất nhiều lần Thảo muốn ly dị nhưng người chồng đó rất ích kỷ, chỉ muốn bảo vệ danh tiếng.Hạnh phúc lớn nhất với Thảo là làm đẹp và họa thơ cùng thầy.Văn chương đối với Thảo như một sự giải thoát. 

Tôi cảm thấy bàn tay của Liên đang tìm lấy tay tôi.Tôi cũng nắm lại để chị biết rằng chúng tôi đang òa vỡ cùng Thảo.Trời ơi ! đây là Thảo của chúng tôi sao ? Thảo xinh đẹp -Thảo đa tình -Thảo hiện đại-giàu sang quyền quý ? Giọng Thảo chùng xuống thấp thật thấp 
-Có lúc Thảo thật sự mong gặp mặt thầy một lần,thầy đã có lần gợi ý.Điều đó có khó khăn gì đâu ,Thảo có xe riêng ,tài xế riêng. Chồng cũng đâu bao giờ quan tâm đến chuyện đi đứng của Thảo.Nhưng gặp rồi thì sao? sẽ làm gì? 
Cái lần đưa thầy ra ga xe lửa về quê thì Thảo đã hiểu.Chúng tôi thuộc về hai thế giới quá khác biệt,tôi không nên gặp lại thầy nữa.Hai người làm sao hiểu hết thầy Nam. 
Dẫu bề ngoài thầy rất ít nói ,nhưng lại là một tâm hồn rất sâu sắc,nhạy cảm.Thầy mà cảm nhận điều gì thì đến từng chi tiết nhỏ.Như những đợt sóng ngầm dưới lòng đại dương,nó lan tỏa chập chùng tận ngàn khơi... 

Đã cuối thu,dưng không trời lại đổ ào một cơn mưa lớn ,mưa dữ dội ,mưa xối xả ,cứ như trút hết bao nhiêu nước của bầu trời Cali xuống mặt đất này,như những nổi niềm tâm tư của Thảo ẩn uất từ hai mươi năm qua,chỉ chờ gặp chúng tôi mà trút cho hả... 

Nói nữa đi Thảo ,để chúng tôi hiểu mà cảm thông cùng Thảo.Nói nữa chúng tôi nghe , về một thời đẹp nhất mà chúng ta từng có với nhau.Nói nữa...và nói nữa...để biết đâu nơi xa xôi ấy thầy Nam có thể cảm nhận được nổi niềm của chúng ta ,tâm tư của riêng Thảo. 

Gía như lúc này,có thể được nghe lại giọng đàn của thầy,để chị em mình cùng hát theo thầy...Liên -Thảo đồng ý không? dù chỉ một lần... 

Xưa tan trường về ,mái tóc Ngọ dài... 
Nay con đường này cây xưa hàng gầy 
Đi quanh tìm hoài...ai mang bụi đỏ...đi rồi... 

HẾT             ---muaphonui--- 

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

CÓ THỂ - TRẦN DZẠ LỮ



Có thể em là Tần phi xưa
Để anh đứng đợi đã bao mùa
Ai vô trong Nội ôm niềm nhớ
Ai ở ngoài thành hứng gió mưa?

Có thể đêm trăng cũng bằng thừa
Khi tình đứt đoạn,xót xa đưa…
Anh ở bên ni sầu bấn loạn
Cấm Thành dấu ngọc đã buồn chưa?

Có thể anh là vua-ngu-ngơ
Qua thành hát dạo mấy câu thơ
Người đời đâu mấy ai tri kỷ
Chiều hỡi! Ai về nơi dấu xưa?

Có thể là em biết đợi chờ
Ngọc ngà trong tiếng nói như mơ
Đường bay số phận:Thiên tình lụy!
Nên vẫn đăm chiêu mãi đến chừ…

Có thể anh buồn như củi khô
Bên thành tắt nắng một thu xưa
Ai cùng chúa Thượng say men rượu
Để mộng anh phơi áo hải hồ?

Tần phi ! Tần phi còn bơ vơ
Một ngôi sao lẻ đến không ngờ
Đêm nay ta vẫn chôn chân nhớ
Em cấm cung rồi em biết chưa?

Trần Dzạ Lữ
( SàiGòn , tháng 3 năm 2012 )

Thơ 9 -đêm tự tình .


ĐÊM TỰ TÌNH 

Lặng nghe , lặng nghe đêm tự tình . 
Là lời bóng tối gọi bình mình 
Lặng yên khi lòng mình cuộn sóng 
Bình yên - một cõi vô cùng ! 

Nhà ai đèn mờ bên khung cửa 
Lạnh lùng một chiếc bóng đơn côi 
Vì ai ? Anh giam mình trống vắng . 
Vì ai ? Đêm thâu mịt mùng ... 

Tình yêu dẫu chỉ còn trong kỷ niệm 
Là lời tình cất giữ đến ngàn sau . 
Một mai khi tình ta nhạt dấu 
Còn em , còn anh ta bên nhau ... 

Cất giữ mà chi bài thơ u sầu ? 
Để nổi buồn chất chứa đến bao lâu 
Thì thôi trôi mau vào dĩ vãng 
Ngàn sau ngàn xưa , ta nhớ nhau ! 

Lặng im anh nghe lời tự tình 
Là lòng em trao mỗi anh thôi 
Chiều đi chiều rơi vào bóng tối 
Hồn ta cơn mưa rơi rơi ... 

Bóng đêm giục giã lời tự tình 
Hồn mình làm những cánh chim đêm 
Nằm im nghe lòng mình nhức nhối ? 
Nhọc nhằn trong đêm cô miên ... 

---muaphonui---

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

Thơ 9 - NÂNG NIU



NÂNG NIU 

Xin hãy nâng niu kỷ niệm
Bóng dáng hạnh phúc đã qua
Hồi tưởng có khi lệ nhòa
Nổi trôi theo miền ký ức

Bước Chân nhẹ vui khe khẽ
Khi còn tình ái trong tim
Bước chân nặng nề u ám
Khi đam mê đã rời xa

Chiếc lá nào của hôm qua
Bay bay trong chiều ngược gió
Mùa thu nào của riêng ta
Thay màu hàng phong tàn úa

Gởi lại nụ hôn nho nhỏ
Nhạt nhòa theo bóng thời gian
Đốm nắng lung linh trên cỏ
Nâng niu hương sắc muộn màng

 Giọt sương chia đôi nổi nhớ ,
 giọt tình lóng lánh trên mi .
Lòng em bơ vơ bối rối ,
 u tình có phải vô tri ?

Lời ai thở than trong gió ,
 tự tình trong nổi chia ly .
Tình ơi ! Như xoay như lắc .
 Đam mê buông thả xuân thì .

---muaphonui--- 



_____________________________

CHẮP TAY DÒNG ĐỜI ( KỲ 10 ) - VÕ CHÂN CỬU




Những Xứ Đấu Bò




Miền Tây Nam bộ là vùng đất mới đã phổ biến đầu tiên chữ quốc ngữ bằng báo chí, tân văn…Lịch sử luôn kỳ vọng nó sản sinh những nhà sáng tác tầm cỡ…
Diễn tiến lịch sử, các sáng tác từ miền đất mới vẫn khó tạo được dấu ấn để đi sâu vào lòng mọi người như các tác phẩm truyền thống kết tinh từ “ngàn năm văn vật”. Kể từ lúc manh nha (với Tao đàn Chiêu Anh Các ra đời năm 1736, thời Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha làm Tổng trấn Hà Tiên), đến những nổ lực của các nhà trí thức cổ vũ sử dụng chữ quốc ngữ như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của…, và các thế hệ nối tiếp, văn chương và thơ ca Nam bộ vẫn bị chê là…nôm na, bình dân. Ở đây chưa có nhiều áng văn đẹp nằm sâu trong lòng người. Nguyễn Đình Chiểu qua truyện thơ Lục Vân Tiên dù có những nổ lực nhằm hài hòa cách hành văn “bác học” với lối nói “bình dân”, thì vẫn có những kết cấu từ ngữ rất thô kệch, què quặt, như câu “Vợ Tiên là Trực chị dâu, Chị dâu em bậu có đâu lỗi nghi(”. Do vậy gần đây, khi có nhà phê bình văn học hải ngoại nổ lực chứng minh rằng bài thơ Nôm “Con cóc trong hang…” là một kiểu thơ “hiện đại”, người ta không khỏi cho rằng đó là sự cố tình giễu cợt. Thời kỳ 1954-1975, nhiều tác giả Nam bộ như Lê Xuyên, Dương Trữ La, Dương Hà…đã chiếm lĩnh trên các tủ sách tiểu thuyết (cho thuê), hoặc truyện dài nhiều kỳ (Feuilleton) trên trang trong các tờ nhật báo. Nhưng người đọc vẫn chưa thể xóa được ấn tượng Văn học Miền Nam thiên về lối “diễn tình”, chỉ phục vụ…giải trí.
Vấn đề này xin để lịch sử tiếp tục soi xét. Riêng trong cõi thơ, thì miền châu thổ giàu phù sa này đã sản sinh ra nhiều tác giả mở đường trong nền Văn Học Miền Nam (VHMN) 1954-1975.
Từ năm 1965, khi những cây bút mới ở Miền Trung như tôi bắt đầu đăng những sáng tác mang tính thơ ngây trên các trang văn nghệ ở các nhật báo Sài Gòn thì ở Miền Tây đã có những Văn Đoàn, Bút Đoàn khá mạnh. Tại Sóc Trăng, bấy giờ là tỉnh Ba Xuyên, từ năm 1962 nhóm học sinh Trung học với những Trần Phù Thế, Mây Viễn Xứ (sau ký Lâm Hảo Dũng), Lưu Vân…đã lập ra nhóm Cung Thương Miền Nam. Họ có tuổi sắp vào đời nên ngôn ngữ ngày càng sát với chiến cuộc xã hội. Sau 1965, khi Tạp chí Văn ra đời, các cây bút Miền Tây này liền có bài đăng. Lúc này, những cây bút nào xuất hiện trên Văn coi như được công nhận là “tác giả” !

Qua sông
Qua sông nước lớn trăm bề
Hồn như trải rộng lối về thênh thang
Nhớ đâu tình đã phai vàng
Cành chiêm bao bỗng treo ngang phận người

( Về lại đồng bằng)
Những câu lục bát trên đây của Lưu Vân như diễn tả hết đặc điểm của vùng đất. Chàng trai miền châu thổ không xa rời với khí hậu tinh thần chung của cả Miền Nam lúc chiến tranh bùng phát. Đến khi lên sống với Sài Gòn, qua bài thơ làm ngày 1-1-1968, ông đã kịp nhận ra:
khi nào ta đi xa rồi ta sẽ nhớ sàigòn
với đàn bò thành phố với trịnh công sơn
với nhạc du ca hát buồn thế nào,
giữa đám đông ồn ào, đàn bò xa lạ
cái gọi là chúng ta-trong đó-những con bò ngu đần-những con bò bơ vơ
cái gọi là chúng ta-là tập thể - có người già, người trẻ
là cổ thụ, dòng sông, là đồng lúa không người, là núi cao, là chỗ cúi đầu.
như lửa bốc ngầm-một sự cháy âm ỉ.
…….
khi nào ta đi xa rồi, biết còn nhớ sàigòn
với ngày đám đông-đêm giới nghiêm
vì ta là người-thật không phải người
vì ta là bò - là bò hay người
sao tiếng người thảm thương
như sự phản bội
như đàn bò - như sàigòn - như đấu trường.

ta sắp đi xa rồi, một con bò sắp đi xa rồi
sao buồn không muốn bước
sao đường không lối đi
ngày thênh thang
buồn ơi-buồn-buồn ơi
cái khoảng cách nào đã réo gọi hồn người
người đâu cần nghe- bò đâu cần nghe- bò ngu đần
người và b ò- bò và người- đó những điều thương.


Ta sắp đi xa rồi, một con bò sắp đi xa rồi
Sao buồn không muốn bước
Sao đường không lối đi
Ngày thênh thang.
Buồn ơi-buồn-buồn ơi
Cái khoảng cách nào đó réo gọi hồn người
Người đâu cần nghe - bò đâu cần nghe - bò ngu đần

Người và bò - bò và người - đó những điều thương.
(Sàigòn, xứ đấu bò)
Bài thơ in trên Tập san Văn vào thời điểm chiến sự Mậu Thân diễn ra trên các đường phố của Sài Gòn cũng như các thành phố cho thấy tâm trạng chán nghán của tuổi trẻ trước cuộc chiến nồi da xáo thịt. Tác giả cũng như bao lớp người trẻ không hiểu “bởi đâu, những đàn bò không có ý nghĩa cao siêu/ bởi đâu, những đàn bò húc nhau…”. Trước cuộc chiến tranh vô nghĩa, nhiều người cầm bút trẻ các nơi đã lựa chọn sự phản kháng qua trang giấy. Những “văn thơ phản kháng” ngày càng xuất hiện rộng rãi khắp nơi trên các báo chí công khai cũng như bí mật.

Miền “Nhân sinh”
Nha Trang, thành phố tuyệt đẹp bên bờ biển Miền Trung lúc này cũng trở thành một căn cứ quân sự lớn. Cảng Cam Ranh được quân đội Mỹ lập thêm sân bay phản lực. Căn cứ Dục Mỹ thành nơi đào tạo binh chủng biệt kích. Sau 1972, trường hạ sĩ quan Đồng Đế được nâng cấp để có thể mở các khóa đào tạo sĩ quan cấp tấp.
Xóm Chụtt là xứ thong dong
Cởi áo giăng mùng, nằm đợi ghe lên
Xóm chài nhỏ ở phía nam thành phố với câu ca dao diễn tả cảnh thanh bình khi những chuyến ghe bầu cập bến không còn nữa. Nơi đây nằm cạnh sân bay Nha Trang, đã thành trường đào tạo sĩ quan hải quân với vòng kẽm gai bao quanh. Nhà anh Nguyễn Văn Tản, một người yêu văn nghệ ở Chụtt vẫn rộng cửa đón tôi mỗi lần ghé đến Nha Trang. Anh Tản có cha vợ là Viện trưởng Viện Hải Dương học được mọi người nể trọng. Nhóm sáng tác mang tên Nhân Sinh tập hợp các cây bút trẻ như Nguyễn Sa Mạc, Nguyễn Âu Hồng, Trần Vạn Giã, Thế Vũ…biết có tôi về, vẫn thường kéo xuống nhà anh Tản bàn chuyện văn chương, đi ngoạn cảnh mà không sợ bị dòm ngó.
Thành phố Nha Trang có nhà sách Huy Hoàng khá lớn nằm trên đường phố chính Độc Lập (sau 1975, nhà sách này bị quốc hữu hóa, nhiều trí thức vốn là người của “cách mạng” từng được anh cưu mang tại đây có can thiệp nhưng không được). Chủ hiệu sách, ông Nguyễn Huy Hoàng là một Phật tử có lòng bao dung, sẵn sàng dung chứa những người làm văn nghệ đang thất cơ lỡ vận khắp mọi miền về tá túc. Từ năm 1971, ông cất thêm mấy nhà bằng gác gỗ sau lưng nhà sách làm nhà nuôi trẻ bụi đời. Nguyễn Sa Mạc sau khi đào ngũ về trở thành nhân viên nhà sách. Sau đó, Vũ Hữu Định, Nguyễn Miên Thảo, Phạm Tấn Hầu… trên đường xuôi ngược, trốn quân dịch, không tờ giấy lận lưng. Tấp vào đây, ai cũng được anh biến thành nhân viên nhà trẻ bụi đời. Tôi có giấy hoãn dịch, được anh dành cho một ghế xếp tại văn phòng trên gác để ở lại bàn chuyện văn chương. Nhà nuôi dạy trẻ bụi đời của anh Huy Hoàng trở thành nơi phổ biến kinh nghiệm qua mặt các trạm kiểm soát để những “trốn lính mà vẫn đi giang hồ”.Kinh nghiệm của Vũ Hữu Định : tìm hiểu trước tên tuổi người chỉ huy từng trạm. Lính chưa kịp kiểm tra thì Định đã nêu tên người chỉ huy ra, hỏi “ Hôm nay đại úy…có nhà không, nhắn là thi sĩ…gửi lời thăm”. Thế là anh đi trót lọt suốt từ Đà Nẵng tới Sài Gòn !
Làm nhân viên nhà sách, có số tiền dành dụm được từ lương nên cuối năm 1971, Nguyễn Sa Mạc (NSM - nay là Nguyễn Hoàng Thu) đứng ra chủ trương Tạp chí văn nghệ và nhà xuất bản Nhân Sinh. Anh vốn là thông dịch viên, từng theo các đoàn hành quân hỗn hợp tại Gia Nghĩa, Bảo Lộc trốn về. Số ra mắt, bìa Tạp chí được in Typo thẳng thóm, cuối trang ghi rõ chủ đề : “Nam Việt Nam và Mặt trận văn hóa của Thực dân mới” ! Phần ruột gần 100 trang được quay Ronéo theo cách “tự cào”(thủ công).
Văn nghệ Miền Nam lúc này, bên cạnh các tạp chí chính thống như Văn, Bách Khoa, Vấn Đề, Khởi Hành, Thời Tập, đã xuất hiện nhiều ấn phẩm của các “phong trào” đấu tranh thuộc các tổ chức tôn giáo, đảng phái. Nếu hám danh, người viết dễ bị lợi dụng làm bung xung cho phái này, phe nọ. Tất cả đều núp dưới chủ trương chống chiến tranh, chống độc tài. Chỉ qua vài đoạn văn, người đọc có thể nhận ra thâm ý của tác giả và nhóm chủ trương. Nhóm nhân sinh là của những người trẻ thật lòng. Họ miêu tả cảnh khổ của người trốn lính, của lao công đào binh…Cuộc chiến khốc liệt đã biến họ trở thành những “Tên Phiêu Bạt” (NSM), phải mang “Những Vòng Hoa Ngụy Tín” (Thế Vũ)…
“Nhân Sinh” số ra mắt được đăng quảng cáo đàng hoàng trên Tạp chí Bách Khoa. Tuổi trẻ thường háo thắng, nên NSM liều mình đem chưng ra luôn tại các nhà sách. Anh dặn người bán sách : “An ninh có hỏi thì nói của ai đó đem đến gửi bán, nhân viên không rõ”. Nhưng các anh đã quá ngây thơ. Đội kiểm tra đặc biệt đã nhận ra dòng chữ cuối bìa: Nam Việt Nam và Mặt trận văn hóa của Thực dân mới”. Báo bị tịch thu, người chủ trương phải trốn biệt. NSM phiêu bạt ra tận Đà Nẵng rồi vô Sài Gòn làm nghề thầy cò (sửa mo-rát) cho các nhà in để tiếp tục tìm cách in Ronéo các tập thơ, truyện thuộc NXB Nhân Sinh…Cuối cùng, năm 1973 anh cũng bị bắt trở lại vì tội “đào ngũ” !
NSM kể: thời gian ở Sài Gòn anh chơi khá thân với nhiều nhà thơ là sĩ quan quân đội VNCH. Họ có xe Jeep, có thể chở anh đi chơi an toàn, không bị xét giấy tờ. Một bữa, anh cùng Yên Bằng, một nhà thơ thân thiết của các nhóm Cung Thương Miền Nam, Hồn Trẻ Hai Mươi hồi còn ở quê Miền Tây. Có hôm cả hai ngà ngà vào một quán Bar trên đường Tự Do. Một lính Mỹ đen sàm sỡ với các chiêu đãi viên. Yên Bằng trong quân phục lính trận đã nổi máu yên hùng, rút súng bắn thị uy. Cả hai điềm nhiên lái xe đi ! Từ đó anh hiểu thêm cái “chất” của các bạn văn nghệ Miền Tây !
Nha Trang vừa là căn cứ quân sự, vừa là hậu cứ lớn của Vùng II chiến thuật. các sĩ quan, hạ sĩ quan đào ngũ, trí thức trốn lính bị bắt có quê vùng nam Trung bộ đều được đưa về giam tại quân lao Nha Trang trước khi ra Tòa án quân sự. Cả Nguyễn Đức Sơn lẫn Hồ Ngạc Ngữ năm 1973 bị bắt ở Bảo Lộc đưa xuống nhà giam quân lao Nha Trang đều tuyệt vọng vì không có nguồn thăm nuôi. Nhưng cả hai đều lần lượt bất ngờ khi bị một quản giáo kêu lên phòng trình diện. Các anh sau đó được xếp vào một khu riêng, được cho ăn uống đầy đủ, cả ngày chỉ bị sai làm việc vặt…Té ra viên sĩ quan quản giáo bí mật ấy chính là nhà thơ tác giả bài “Sài Gòn-Xứ đấu bò”. Thi sĩ Lưu Vân đã tìm cách “cứu” các bạn văn thi sĩ trong khả năng của mình. Để tất cả không chỉ là những con bò ! Những trường hợp đặc biệt thì cậy nhờ “Đại úy quân pháp”, Luật sư, Kịch tác gia Dương Kiền giúp.
Cuộc chiến tranh phi nghĩa cũng phải đi qua. Mọi người hy vọng “bò sẽ là bò, người sẽ là người”. Các cây bút của nhóm Nhân Sinh chống chủ nghĩa Thực dân mới vì lòng yêu nước bộc phát chứ không để mưu cầu chức tước. Một trong những cây bút chủ biên của nhóm là thi sĩ Trần Vạn Giã ngậm ngùi từ giã thành phố thân yêu để về vùng kinh tế mới Đất Sét :
Nha Trang

Tạm biệt Nha Trang năm ba mươi tuổi
Năm vầng trăng lịm tắt giữa đêm sâu
Ngôi sao lạ mọc trên đời thương nhớ
Và một mình anh ngồi hát Thánh ca

Bài Thánh ca trong mưa, trên lá
Trôi nổi đời người chảy suốt những mùa đông

Anh biết Nha Trang lòng như thuở ấy
Nhưng lỡ rồi không biết tại ai
Nên kỷ niệm gọi đời anh mãi mãi
Tình nhớ này đành đếm những đầy vơi

Đêm Nôen đêm một đời đã đến
Lời thơ ơi có ấm tiếng chuông rơi
Nha Trang - Nha Trang xa dìu vợi
Chắc cát lặng thầm trên biển ngàn khơi

( còn tiếp)

Tùy bút -Tản mạn về Đức Huy


Đừng Xa Em Đêm Nay ( Thảo My )

http://www.youtube.com/watch?v=sLlaysEaq-0




Tản mạn về Đức Huy 


Đối với sự cảm nhận của riêng tôi , nhạc Đức Huy rất hay . Hay ở sự đơn giản chân tình mộc mạc .Tôi cứ ngỡ nhạc sĩ là người rất biết cách yêu thương . Lần đầu tiên thời con gái tôi biết đến nhạc Đức Huy :

" Tôi yêu xem một cuốn truyện hay , tiếng chim hót đầu ngày , ly cafe buổi sáng . Tôi yêu quần Jean và áo trắng , con đường ngập nắng vàng ...và tôi cũng yêu em . Yêu em muộn màng , yêu em nồng nàn , yêu em chứa chan ..."

Một trái tim yêu đơn giản biết mấy , và hạnh phúc thường đến bằng con đường cũng đơn giản như vậy . Hạnh phúc bình thường là thứ dễ tìm và bền lâu .Điều này cũng nói lên qua cách ăn mặc của nhạc sĩ , không màu mè , kệch cỡm . Vóc dáng nhỏ con của nhạc sĩ cùng với thể chất yếu đuối chính là nhược điểm của anh .Anh biết cách sửa đổi yếu điểm này để biến nó thành ưu điểm trong mắt khán giả . Tôi chưa từng gặp anh ở ngoài đời chẳng rõ anh là loại người thế nào . Mỗi khi xuất hiện trên tivi ,video anh luôn tạo cho tôi một cái nhìn thiện cảm . Một Đức Huy rất chân thành , sâu sắc , hài hước và hiểu biết từng trãi .

Thường khi các nhạc sĩ tự viết ca khúc cứ hay thi vị mọi thứ , chẳng hạn như :

" Tôi muốn mình tìm đến thiên nhiên
Tôi muốn sống như loài hoa hiền
Tôi muốn làm một thứ cỏ cây
Vui trong gió và không ưu phiền ..."

Nghe thì hay đấy nhưng nó không thật , nó giống với linh hồn của tu sĩ hơn là nhạc sĩ . Cho nên tôi rất mê cái cách mà Đức Huy bày tỏ nỗi niềm .Mặc dù lời lẻ đơn giản nhưng khi thấy anh trình bày lại toát lên một vẻ đẹp trong sáng tự nhiên .

Sau đó tôi nghe ca khúc đầu tiên của anh

" Cơn mưa phùn đi qua thành phố nhỏ , hàng cây lặng lờ ...
Buồn một sớm mai , người con gái hát một mình . Bài hát
buồn như lời tỏ tình ..."

Chỉ hình ảnh một cơn mưa phùn mà nói lên nhiều thứ .

Khi nghe Hương Lan :

" Trong đôi mắt em anh là tất cả , là tình yêu là hạnh phúc em khát khao . Nhưng em ước gì mình gặp nhau lúc em chưa ràng buộc , và anh chưa thuộc về ai . Em sẽ cố quên khung trời hoa mộng ..."

Một thời gian dài tôi mê bản này chết thôi . Vậy mà một lần nghe anh trả lời phỏng vấn bảo rằng anh viết bài này theo kinh tế thị trường tôi thấy buồn cười gì đâu . Tình yêu cũng có thể chạy theo vật chất nên nhạc phải theo trị trường .hihihi...

Khoảng năm 2005 tôi về Pleiku chơi , rất ngạc nhiên khi thấy tất cả các quán cafe đều chơi nhạc Đức Huy là chính . Và bản Đừng xa em đêm nay thường được khách nam yêu cầu . Tôi hỏi một cậu trai khoảng 25 tuổi , khi cậu yêu cầu chủ quán chọn ca sĩ Thảo My
- Em có biết Thảo My là ai không ?
- Thì ...là Thảo My , cô ca sĩ xinh đẹp vừa mới nổi lên .
- Cô ta chính là nàng trong bài hát , và bài hát viết cho giọng cô ta .
- Dẩy na ...hèn chi ẻm hát tới quá !

Thời đó đa số các quán cafe ở SG và HN lại thịnh nhạc Trịnh Công Sơn .

Mổi khi họp mặt bạn bè tôi đều hát Karaoke bản này , bản tủ vì nó dễ hát , giai điệu Bolero không làm tôi bị đuối giữa chừng , không bị bễ dĩa . Tôi rất ít có cơ hội dợt Karaoke , trong khi các bạn tôi thì hát pro như ca sĩ . Các bạn cập nhật bài mới liền tù tì , chi địa cho giàn máy tân tiến , nhà đứa nào cũng có riêng một phòng Entertainment hẳn hoi .Tôi mà được thế chắc cũng hổng đến nổi tệ ...Bạn tôi còn trêu " Hèn gì mà nó có tới 4 đứa con ..."

Nghe bản này ở Cali không đã bằng ở các quán cafe Pleiku. Làm như Phố núi của tôi sống nhờ vào các quán cafe . Đêm Pleiku rất lạnh , nếu không mưa thì cũng mù sương giăng đầy . Cho nên nghe Đường xa ướt mưa cũng phê lắm !

" Đêm nay thời gian đứng yên lắng đọng , cho đôi tình nhân đuối trong giấc mộng ...Mưa rơi làm thêm khó câu giã từ , vì đường xa ướt mưa ..."

Khôn ghê ha , đổ thừa trời mưa đi rồi yêu nhau mí chỉ cà tha . Vậy cái dù và áo mưa đã không còn hữu dụng . Lái xe hơi chớ phải xe đạp đâu mà lười ...

Bởi vậy mới nói , Đức Huy người thì nhỏ mà đa tình như quỷ . Đa tình rất có duyên .

Lần đầu tiên thấy Thảo My trình bày Đừng xa em đêm nay , tôi bị cuốn hút bởi thân thể khoẻ mạnh , khuôn mặt góc cạnh đầy bản lĩnh .Đức Huy có vẻ cũ kỷ yếu đuối so với nàng , một nhan sắc năng động trẻ trung ngời sức sống .Rồi họ cũng chia tay như những cặp tình nhân khác . Nghe nói Chàng bây giờ về VN sống hẳn , còn nàng vẫn ở lại với mấy đứa con . Sự tác động của hấp lực với những cặp tình nhân tính cách trái ngược thường gây tiếng sét ái tình , đam mê nhưng khó bền . Qua thời đam mê nông nổi , họ chỉ nhìn thấy khuyết điểm của nhau . Tôi thấy tội nàng lắm ! Nếu nàng hổng có yêu Đức Huy , chúng ta có thể không hề biết đến một ca sĩ Thảo My nhưng đời nàng có thể hạnh phúc hơn . Các bạn tôi cho rằng Thảo My không xinh xắn , nhưng với riêng tôi vẻ đẹp của nàng rất đặc biệt . Một phụ nữ khoẻ mạnh , tự tin luôn tiến về phía trước . Tình yêu của nhạc sĩ giống như những cơn mưa bóng mây đuổi theo ngọn gió . Nó đến nó đi thoắt chốc là tan biến . Sau khi chia tay Thảo My , tôi không thấy có bản nhạc nào của Đức Huy làm tôi mê như trước . Có phải trái tim anh đã khô cằn ? Hay tại anh lo làm kinh tế mà xao lãng nghệ thuật chăng ?

Bài hát đâu chỉ là nốt nhạc , khi lửa đam mê đa tắt dòng nhạc như thiếu hụt nhựa sống . Nhạc sĩ có thể yêu nhiều lần trong đời , nhưng tình yêu và đam mê của mỗi người chỉ rung động thật sự với một nữa mà Thượng Đế vẫn giành riêng cho mình .

Một nữa đàn ông là đàn bà. Một nữa của đàn bà là đam mê .Một nữa của đam mê là nghệ thuật . Một nữa của nghệ thuật là tình yêu .Một nữa của tình yêu là đau khổ . Một nữa của đau khổ là hoài niệm . Và một nữa của hoài niệm chính là hạnh phúc .

" Và mùa xuân trong đôi mắt em ,là mùa xuân tôi mãi đi tìm ..."


---muaphonui---
Đính kèm (1) 

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2012 (KỲ 106)



NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

1061 - Chị Nga
GIA ĐÌNH “XƯƠNG THỦY TINH”

Lao động nghèo người khuyết tật sinh khoảng 1963 tại miền Nam. Sống ở TPHCM (2012).

Bản thân và anh trai cùng em gái song sinh từ khi sinh ra đã mắc chứng bệnh “xương thủy tinh” tức xương dễ gãy, vỡ không thể đứng thẳng người mà phải lết đi, thường xuyên phải nẹp những chỗ xương gãy. Nhưng gia đình nghèo không có phương tiện chạy chữa thuốc men cho đỡ hơn.

Đã vậy, gặp lúc chiến tranh khốc liệt cả 3 được cha mẹ bỏ vào quang thúng gánh mang chạy tránh bom đạn rồi thất lạc. Cuối cùng cả 3 được lính VNCH tìm thấy trong rừng cao su mới đem vào cho trại mồ côi Công giáo ở Thủ Đức (ngoại vi TPHCM bây giờ) nuôi.

Sống ở trại mồ côi đến năm 1988 em gái song sinh cũng do bị “xương thủy tinh” gãy làm trượt té chấn thương sọ não qua đời. Còn lại một mình đi học văn hóa (tốt nghiệp lớp 12) đồng thời lo chăm sóc cho anh trai vừa bị “xương thủy tinh” vừa thiểu trí năng không tự lo được cho bản thân.

Đầu những năm 1980 hai anh em được chuyển đến trại mồ côi Thị Nghè vẫn ở TPHCM. Tại đây gặp được người yêu cũng là trẻ mồ côi có cha mẹ bị trúng đạn chết trong một trận càn, riêng mình thì bị thương vào chân thành tật đi khập khiễng.

Từ đó cả hai cùng đưa ông anh thiểu trí năng rời khỏi trại mồ côi ra ngoài sống riêng rồi làm lễ cưới năm 1999. Sau đó gia đình nhỏ 3 người bắt đầu lao vào cuộc kiếm sống ngoài đời vất vả.

Ban đầu vợ làm nghề thêu may học được từ trại mồ côi, chồng đi bỏ hàng và phụ việc nhà cho vợ. Sau một thời gian mối hàng may ít, vợ phải ngồi xe lăn đi bán vé số (chồng phải bế lên xe lăn) ban ngày, tối về mới may vá hàng gia công.

Thế rồi có thai con đầu lòng định bỏ đi vì sợ lại mắc bệnh “xương thủy tinh” di truyền thành què quặt tội nghiệp nhưng may siêu âm thấy vẫn bình thường nên bác sĩ khuyên giữ lại. Quả thật vậy, đứa con trai lớn lên lành mạnh khỏe khoắn.

Đến cháu trai thứ hai cũng tưởng vậy ai ngờ cháu lên một tuổi mới phát hiện dính bệnh như mẹ và cậu phải đi bệnh viện nẹp tay hoặc nẹp chân thường xuyên mỗi khi xương bị vỡ, thời gian nằm bệnh viện còn nhiều hơn ở nhà! Tuy nhiên rồi thì cả 2 vợ chồng đều hầu như không còn ngạc nhiên gì mấy trước số phận đã quá quen rồi: “Trời cho thế nào mình phải nhận vậy thôi.”

Có khi cả 2 mẹ con cùng đi viện bó xương, còn ở nhà mỗi khi cần di chuyển thì con lết phía trước và mẹ lết phía sau để còn chăm con khỏi bị té ngã nữa!

1062 - Dương Kiền
MỘT THỜI “VĂN HỌC”

Nhà thơ, nhà viết kịch, luật sư Việt kiều Na Uy sinh 1939 tại Huế. Sống ở Na Uy (2012).

Năm 1962 còn là sinh viên Luật ở Sài Gòn tham gia trong phong trào sinh viên trí thức đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm đã cùng một số bạn bè cùng trang lứa sáng lập tạp chí Văn Học lo phụ trách phần nội dung (cùng Phan Kim Thịnh làm chủ nhiệm chịu trách nhiệm quản lý chung, sau chuyển dần thành bán nghiệp san).

Với tinh thần và lý tưởng tiến bộ của lực lượng sinh viên trí thức “dấn thân” thời này, đã xây dựng nội dung báo vừa có tính thời sự thiết thân đề cập đến các vấn đề chính trị – xã hội – văn hóa thực tế nóng bỏng vừa nâng cao trình độ kiến thức cả người viết lẫn người đọc. Tất cả đều nằm trong chủ trương xây dựng một xã hội miền Nam không Cộng sản mà vẫn hòa bình thịnh vượng, tự do dân chủ nhưng với Cộng sản chỉ đấu tranh ôn hòa thay vì bạo lực trong tinh thần “anh em một nhà”.

Điều này phản ánh qua một số đề tài thể hiện trên mặt báo như giới thiệu các tác giả bị miền Bắc bạc đãi như Hoàng Cầm, Hoàng Công Khanh, Vũ Anh Khanh, Quang Dũng, Hà Minh Tuynh, Nhất Linh; giới thiệu tác phẩm “Bác sĩ Jivago” của B. Pasternak đoạt giải Nobel nhưng bị chính quyền Liên Xô thời đó phủ nhận giá trị… Đồng thời vẫn kêu gọi, cổ vũ cho ngưng chiến hòa đàm…

Được sự hỗ trợ tích cực của lứa sinh viên cùng chí hướng cũng là những cây bút trẻ có tiềm lực và nhiệt huyết gồm Thế Uyên, Nguyễn Hữu Dung, Bùi Ngọc Dung, Trần Triệu Luật, Trần Quang Long, Nguyễn Trọng Văn, Luân Hoán… Dần dần cả những tác giả tiến bộ khác ngoài giới sinh viên cũng gia nhập đội ngũ như Hoàng Ngọc Biên, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Xuân Hoàng nên báo đạt chất lượng nâng tầm đáng kể - sâu sắc và tiến bộ - nhất thời này.

Bản thân nguyên là nhà thơ và viết kịch (có vở “Mắc lưới” được tặng giải thưởng quốc gia chế độ cũ năm 1966) cũng góp bài viết về các đề tài thời cuộc.

Tuy nhiên qua giai đoạn sinh viên lên ngôi trên chính trường miền Nam đến thời các “tướng trẻ” Thiệu – Kỳ nắm quyền và Mỹ can thiệp sâu thì tình hình miền Nam nhanh chóng đổi khác với chiều hướng chiến tranh dữ dội hơn. Từ đó quan điểm “đối thoại” hòa bình với miền Bắc phá sản nên nhóm Dương Kiền bắt buộc phải rút khỏi báo để tránh cho báo khỏi bị đóng cửa! (Để tồn tại, sau đó báo biến thể thành một loại tạp chí khảo cứu văn học tạp lục trình độ giáo khoa vô thưởng vô phạt do chủ nhiệm Phan Kim Thịnh từ nay quán xuyến hết mọi mặt).

Còn bản thân cũng hầu như rút lui khỏi các hoạt động VHNT, ra làm luật sư… Bạn bè cùng chí hướng một thời nay cũng phân tán mỗi người một ngã đường đời có khi còn theo hướng đối nghịch nhau như đi lính VNCH (Thế Uyên, Luân Hoán…) hoặc vào chiến khu theo Cộng sản luôn (Trần Quang Long, Trần Triệu Luật…)!

Sau 1954 qua định cư Na Uy. Cuối đời làm thơ Thiền như một cách đã “đạt đạo” như bài sau viết năm 2006 nhân chuyến quay về cố hương tìm thăm lại cảnh cũ người xưa:
VÒNG QUAY
“ Có một vòng quay cho đời ta,
Tinh mơ lấp lánh hạt sương sa,
Giữa trưa nắng đổ hai vai nặng,
Chiều vẳng chuông chùa mở lối ra.

Thế đấy, niềm vui chan nước mắt,

Ừ em, nỗi khổ cũng đơm hoa,

Em nhé cầm tay ta tĩnh lặng,

Yêu nhau Nam Mô A Di Đà.
(SaiGon, 19.02.2006)

1063 - Lê Nguyên Vỹ

SINH BẮC TỬ NAM HÀI CỐT QUY CỐ HƯƠNG
Chuẩn tướng VNCH sinh 1933 tại Sơn Tây – Mất 1975 ở Bình Dương (43 tuổi).
Năm 1954 cùng các em gái di cư vào Nam, mẹ còn ở lại miền Bắc.

Gia nhập quân lực VNCH. Nổi lên trong hàng ngũ tướng trẻ tài năng từ năm 1972 làm tư lệnh phó Sư đoàn 5 tử thủ An Lộc (thuộc Bình Phước hiện nay).

Cuối năm 1973 giữ chức tư lệnh cuối cùng sư đoàn này trong lúc người em gái đã đi theo Cộng sản! Được tiếng tướng trong sạch chống tham nhũng.

Đến trưa ngày 30.4.75 sau khi nhận lệnh Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng Việt Cộng đã ra lệnh giải tán sư đoàn, sau đó riêng mình đến đứng dưới cột cờ bộ tư lệnh (đặt tại Lai Khê, Bình Dương) rút súng ngắn tự sát tại chỗ: “Vì tôi là một tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành lệnh này được (đầu hàng). Tôi nghĩ thân làm tướng là phần nào đã hưởng vinh dự và ơn huệ của quốc gia hơn các anh em nên tôi phải chọn lấy con đường đi riêng cho tôi.”

Là một trong 5 vị tướng VNCH tự sát sau khi thi hành lệnh đầu hàng (còn Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng – có điều trùng hợp Lê Văn Hưng là tư lệnh Sư đoàn 5 khi mình là tư lệnh phó).

Vợ (gốc Hải Phòng di cư) ở nhà sau đó mới biết tin đành gạt lệ ôm 4 con nhỏ (từ 6-10 tuổi) vượt biên qua Mỹ làm thợ cắt tóc nuôi con. Nhưng vẫn giữ liên lạc với mẹ chồng ngoài Bắc, gửi tiền giúp đỡ bà.

Năm 1987 bà mẹ ngoài Bắc vào TPHCM gặp các con gái tìm mộ con trai chôn ở Gò Vấp đưa đi hỏa thiêu rồi đem về quê Sơn Tây thờ trong đình làng.

“Sinh Bắc tử Nam” là khẩu hiệu của cán binh, bộ đội sinh miền Bắc vào miền Nam chiến đấu, một số hy sinh sau 1975 được thân nhân vào đưa hài cốt về quê nhà miền Bắc. Trên đây là trường hợp quy cố huơng tương tự hiếm có thuộc về phía bên kia chiến tuyến cuối cùng cũng quay đầu về lại nơi chôn nhau cắt rốn mà trước kia mình từng dứt áo ra đi.

1064 - Nguyễn Đình Đầu
ĐIỂN HÌNH NGƯỜI TRÍ THỨC CÔNG GIÁO YÊU NƯỚC

Nhà nghiên cứu sử địa sinh 1920 tại Hà Nội. Sống ở TPHCM (2012).

Thời Pháp tốt nghiệp trường Bách nghệ Hà Nội, tham gia hoạt động trong những phong trào thanh niên tiến bộ thời đó như Hội Truyền bá Quốc ngữ, Hướng đạo và do mình có đạo nên cả tổ chức Thanh Lao Công (thanh niên lao động Công giáo) do giới Công giáo thành lập tạo điều kiện cho giới trẻ có đạo hoạt động xã hội. Ngay từ thời này đã bộc lộ năng khiếu và ý thích vẽ bản đồ đất nước.

Khi Cách mạng Tháng 8 thành công, được một huynh trưởng hướng đạo dẫn dắt đi theo con đường cách mạng, đưa vào chính phủ lâm thời làm phụ tá bộ trưởng bộ kinh tế quốc dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ đi mua gạo bị quân Lư Hán bắt suýt giết chết. Sau đó tiếp tục làm phụ tá ngoại giao trong cuộc đàm phán với Pháp, có mặt trong phái đoàn VN qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau thất bại.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, không theo vào chiến khu (có lẽ do nghi ngại Cộng sản đã có dấu hiệu phân biệt đối xử với Công giáo) mà vẫn ở lại Hà Nội. Rồi được giúp đỡ qua Pháp theo học ĐH Công giáo ở Paris, tốt nghiệp cử nhân ngành khoa học xã hội năm 1953. Trong thời gian này vẫn tham gia các hoạt động Việt kiều ở Pháp ủng hộ kháng chiến chống Pháp.

Năm 1955 trở về Sài Gòn đi dạy học chuyên môn sử địa, soạn sách giáo khoa môn này. Nhân đó tìm lại thú vui vẽ bản đồ và say mê sưu tầm bản đồ cổ VN lên tới hơn 3.000 bản đồ. Song song đó góp phần khôi phục, chấn hưng phong trào Thanh Lao Công tuy thuộc Công giáo song lại có xu hướng tiến bộ ủng hộ Mặt trận Giải phóng miền Nam chống Mỹ.

Từ đó sau Hiệp định Paris ký kết 1972 đã ra mặt tham gia “Lực lượng thứ ba”, lực lượng chính trị tự cho “đứng giữa” không theo VNCH thân Mỹ cũng không theo Cộng sản với chủ trương đấu tranh tái lập hòa bình cho đất nước. Vì thế đã được Tổng thống Dương Văn Minh lên nắm quyền vài ngày trước 30.4.75 cử vào đoàn đại diện đến gặp phái đoàn Cộng sản (miền Nam) ở Trại Davis để thương thảo ngưng bắn không thành.

Sau ngày Giải phóng, “Lực lượng thứ ba” xem như dẹp tiệm nhường chỗ cho Cộng sản – chỉ còn duy nhất một lực lượng là Cộng sản! – nên đành lui về làm thường dân.

May nhờ hai nhà khoa học cộng sản uy tín Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng biết được sở học và quá trình hoạt động yêu nước của một người trí thức Công giáo tiến bộ tiêu biểu nên giúp đỡ đưa trở lại con đường chuyên môn nghiên cứu sử địa, đặc biệt nghiêng về khảo cứu địa dư, địa bạ, bản đồ VN từ xưa đến nay. Từ đó liên tiếp có nhiều công trình, tác phẩm nghiên cứu khoa học đóng góp trong lĩnh vực này.

Năm 2005 được tặng Giải thưởng Trần Văn Giàu, năm 2008 là Giải thưởng Phan Châu Trinh cho toàn bộ sự nghiệp học giả đến khá muộn màng vào cuối đời.

1065 - Phạm Hồng Thắm
LỜI HỨA CỦA NGƯỜI LÍNH

Y sĩ sinh 1958 tại Hải Dương. Sống ở Gia Lai (2011).
Vào bộ đội quân y năm 1973 chiến đấu ở miền Nam.

Năm 1986 ra quân chuyển qua làm nhân viên nhà nghỉ ở Thái Nguyên.

Sau khi lấy vợ sinh con (4 con) thấy khó sống nổi với đồng lương công nhân nên năm 1993 quyết định đem vợ con lên vùng cao Chư Pah Trai ở Gia Lai từng là chiến trường xưa trồng cà phê và nuôi bò mong thoát cảnh nghèo.

Trên quê hương mới nhờ có tay nghề y sĩ cũ nên còn giúp đỡ săn sóc, chữa trị cho trẻ em người dân tộc (đa số dân tộc J’rai) bị khuyết tật hoặc mắc di chứng CĐDC. Không chỉ thế, còn tìm mọi cách cứu sống trẻ sơ sinh người dân tộc vì hủ tục suýt bị buôn làng chôn sống mang về nuôi dưỡng. Từ đó trở thành một người cha nuôi của cả trăm trẻ khuyết tật, mồ côi, nạn nhân CĐDC.

Khi Trung tâm Phục hồi chức năng Chư Pah được thành lập giao cho làm giám đốc, đã đưa số em khuyết tật vào đây tập vật lý trị liệu, ứng dụng thuật điện châm cho các em xem như tất cả đều là con nuôi, lớn lên các em được cho đi học nghề…

Tất cả vì một lời hứa với đồng đội trước đây nếu còn sống sẽ “nuôi hộ những đứa con của người lính”. Hoàn cảnh đưa đẩy bây giờ làm việc này hy vọng “Biết đâu nới chín suối bạn bè cũng sẽ mỉm cười vui vẻ với mình. Biết bao đứa con của người lính có thể cũng đang trong cảnh này, mình giúp trẻ con ở đây thì sẽ có nhiều người giúp chúng…”

1066 - Phạm Khôi
VỀ VỚI BIỂN QUÊ MÌNH
Kỹ sư địa chất Việt kiều Canada sinh 1972 tại Sài Gòn. Sống ở Vũng Tàu (2012).
Mới 3 tuổi đã cùng gia đình di tản qua Canada tháng 4.1975.

Lớn lên theo nghiệp cha vốn là một thuyền trưởng ở miền Nam, học và tốt nghiệp kỹ sư địa chất từ năm 1997 chuyên đi tàu khảo sát địa chấn biển ở Canada lên tới tận Bắc cực lẫn Nam cực.

Khi mình đã đạt trình độ và kinh nghiệm cao tay nghề, chính người cha đã khuyên nên về giúp VN làm công tác khảo sát địa chấn biển phục vụ tìm kiếm và khai thác dầu mỏ, một lĩnh vực ở VN còn hiếm chuyên gia trong nước.

Vì thế năm 2009 chấp nhận lời mời trở về làm đội trưởng đội khảo sát địa chấn trên tàu thăm dò dầu khí của VN dù lương thấp hơn làm với nước ngoài mà lại ở xa cha mẹ: “Chuyên môn khảo sát địa chất biển ở VN không cao, chính vì thế lại càng thôi thúc mình về. Mình tin rằng sẽ làm được gì đó dù rất nhỏ bé cho quê hương đã sinh ra mình.”

Đây chính là người đội trưởng có mặt trên tàu Bình Minh 02 đương đầu với tàu hải giám Trung Quốc gây hấn năm 2011, bảo vệ vùng biển quê hương, bảo vệ tàu và đồng đội an toàn.

1067 - Phạm Mạnh Cương
CẠN NGUỒN CẢM HỨNG

Nhạc sĩ Việt kiều Canada sinh 1933 tại Huế. Sống ở Canada (2012).


Trước 75 vừa mở trường tư ở Sài Gòn vừa viết nhạc tình ca lãng mạn nhẹ nhàng nổi tiếng với những bài “Mắt lệ cho người tình”, “Thương hoài ngàn năm”, “Thu ca”… Làm các chương trình ca nhạc truyền hình, thu băng đĩa thành công.

Cùng vợ làm MC cho các chương trình đó hợp thành một đôi uyên ương văn nghệ tài sắc vẹn toàn.

Sau 30.4.75 còn ở lại. Nhưng đến năm 1980 thấy khó lòng hòa nhập được với xã hội mới nên cùng 2 con vượt biên từ Cà Mau qua Thái Lan rồi được nhập cư Canada. Lập ban nhạc chơi cho các vũ trường ở Montreal.

Năm 1983 bảo lãnh vợ và 2 con gái qua theo. Tuy nhiên vài năm sau thì hai người… chia tay!

Năm 1998 in tuyển tập nhạc “Huế còn chút gì để nhớ” xem như món quà âm nhạc cuối cùng gửi quê nhà.

Bởi từ khi bôn ba lưu lạc xứ người chỉ sáng tác được 5 bài hát vì cuộc sống, con người nay đã đổi khác, tình cảm từ đó cũng khác rồi không còn đem lại cảm hứng dạt dào tươi mới như xưa nữa: “Người nghệ sĩ muốn sáng tác với sự rung động thật sự phải có nguồn cảm hứng thật. Mà muốn có nguồn cảm hứng thật thì tâm hồn phải thảnh thơi vượt qua cuộc sống hàng ngày…”

1068 - Phạm Mạnh Đạt
MỘT ĐỜI HẠ UY CẦM
Nhạc sĩ Việt kiều Mỹ sinh 1934 tại Hải Dương. Sống ở Mỹ (2012).


Là một trong những nhạc sĩ đầu tiên chơi đàn hạ uy cầm (đàn hawai) từ thời mới du nhập vào Hà Nội những năm 1940 cùng các đồng nghiệp Nguyễn Thiện Tơ, Tạ Tấn, Đoàn Chuẩn…

Năm 1954 cùng vợ di cư vào Nam. Bị động viên đi lính trường sĩ quan Thủ Đức nhưng sau bị thương nên cho giải ngũ sớm. Từ đó tiếp tục gắn bó với sự nghiệp đàn hạ uy cầm tuy ngày càng bị các loại nhạc cụ phổ biến hơn (guitar, piano…) lấn lướt. Bắt đầu viết ca khúc năm 1957.

Đến 30.4.75 cùng vợ và 5 con lên tàu di tản qua Mỹ.

Trên xứ người tạm gác đàn lại lo đi làm lao động nhà hàng (cả dọn dẹp vệ sinh) nuôi thân rồi quay qua mở cửa hàng tạp hóa.

Đầu nhưng năm 1990 khi cuộc sống đã ổn định, gia đình sung túc mới tìm lại niềm đam mê hawai thủa nào. Mở trung tâm dạy nhạc đồng thời bắt đầu thu đĩa nhiều ca khúc do mình tự đánh đàn hawai độc tấu hoặc có phụ họa gây được tiếng vang đáng kể.

Đã ra mắt 10 đĩa nhạc hawai như vậy, trở thành hầu như là nhạc sĩ VN đàn hawai nhà nghề duy nhất ở hải ngoại và có thể cả ở trong nước nữa.

Ngoài ra còn là người đầu tiên mở chương trình Radio tiếng Việt ở TP San Jose, California. Tuy nhiên không tiếp tục công việc kinh doanh đài nữa vì muốn để dành thời gian gắn bó với tiếng đàn hawai.

Năm 2002 lần đầu tiên quay về nước, về tận làng quê nơi sinh nhau cắt rốn ở Hải Dương tặng tiền xây 2 trường mầm non, vào TPHCM ủng hộ quỹ phát triển âm nhạc cho Nhạc viện TP.

1069 - Phạm Minh Thư
MỘT MÌNH THÁO GỠ 18.000 BOM MÌN

Thượng tá bộ đội sinh 1956 tại Quảng Ninh. Sống ở Hà Nội (2012).


Đi bộ đội năm 1974.

Sau chiến tranh, năm 1979 về tiểu đoàn bảo dưỡng kỹ thuật bay đóng tại sân bay Pleiku, dần dần lên chức tiểu đoàn trưởng hàm trung tá.

Do hoạt động trong sân bay nên tận mắt chứng kiến vô số tai nạn bom mình còn nằm sâu dưới lòng đất trên một diện tích rộng bao la bát ngát phát nổ làm nhiều người cả thường dân lẫn bộ đội chết và bị thương thảm khốc mà lúc đó bộ đội công binh chưa có điều kiện và phương tiện để rà soát thu gom. Bản thân thấy vậy không khỏi đau lòng mới suy nghĩ tìm cách làm sao xóa bỏ tai họa này.

Được một đồng đội bên công binh hướng dẫn về cách tháo gỡ bom mìn, thế là từ năm 1992 tự mình lặng lẽ bắt tay vào công việc nguy hiểm chết người này (sau đó có được một đồng đội phụ giúp một thời gian rồi thôi). Do không phải là nhiệm vụ được giao phó nên phải làm toàn ngoài giờ hành chính, vào rạng sáng hoặc chiều về hoặc ngày nghỉ ngày lễ.

Cứ thế đơn thương độc mã một mình cầm dụng cụ đi “chọc” lỗ tìm dấu hiệu bom mìn lấp dưới đất, dưới cỏ, trong bụi rậm… Tìm được dấu vết bom mìn rồi mới tiến hành thao tác tháo gỡ chúng, vô hiệu hóa đem giao cho bộ phận công binh xử lý.

Làm âm thầm lặng lẽ, thậm chí còn giữ “bí mật” với gia đình nữa sợ bị can ngăn! Năm 2003 vợ mới biết khóc lóc van xin đừng làm nữa song không chịu: “Làm người ai cũng muốn có một cuộc sống bình yên nhưng không lẽ mình cứ ngồi yên để nhìn người khác chết chóc bi thương sao. Anh sẽ làm cho bằng hết…”

Bản thân cũng chấp nhận cái giá có thể hy sinh bất cứ lúc nào nên trước mỗi lần đi ra bãi bom mìn đều gấp sổ sách giấy tờ trên bàn làm việc rất cẩn thận, thu dọn phòng làm việc ngăn nắp gọn gàng, viết các nội dung kế hoạch làm việc để lại trên bàn để nếu không may mà không trở về được thì mọi người còn biết công việc mà làm!

Dầm mưa dãi nắng chiến đấu với mối đe dọa tử thần từ năm này qua năm khác khiến cân nặng từ 70kg sụt xuống còn 50kg, người khô đét đen đúa đúng là giống dân buôn phế liệu! May mà sao nhờ trời phù hộ không phụ lòng người có tâm lớn nên đã không ít lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Kết quả sau 13 năm (đến 2005) tính đủ đã tháo gỡ được khoảng gần 18.000 quả bom mìn giết người. Từ vùng đất hoang hóa đã được làm sạch đó mới vận động đồng đội trồng hơn 100 hecta bạch đàn trước khi được điều qua làm Phó giám đốc Bảo tàng Quân chủng Phòng không – Không quân.

1070 - Phạm Ngọc Sang
“CÓ TỘI VỚI ĐỒNG BÀO”
Chuẩn tướng không quân VNCH sinh 1931 tại Gia Định – Mất 2002 ở Mỹ (72 tuổi).
Trong trận quân VNCH lập chiến tuyến tử thủ Phan Rang tháng 4.1975, là tư lệnh không quân vùng Tây Nguyên có quyền chỉ huy trên máy bay (khi cần dễ bay trốn thoát) nhưng vẫn tình nguyện xuống căn cứ dưới mặt đất để chỉ huy không quân hợp đồng tác chiến với bộ binh. Vì vậy cuối cùng bị bắt làm tù binh.

Đi cải tạo 17 năm ngoài miền Bắc, đến 1992 do bị bệnh nặng mới được cho về. Một năm sau cùng vợ con đi Mỹ nhờ con trai vượt biên trước đó bảo lãnh.

Nhưng không sống được lâu do di chứng bệnh tật thời đi cải tạo kéo dài.

Trước khi mất còn kịp viết hồi ký về trận Phan Rang với tâm sự u uẩn: “ Tôi cảm nhận rất có tội với đồng bào vì làm tướng mà không giữ được thành.”

Và trăng trối hai điều: Tất cả tiền phúng điếu gửi về giúp thương phế binh VNCH còn ở lại VN, với những đồng đội lưu vong thì nhắn nhủ “Mọi người hãy thương yêu nhau”.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

DIỄN ĐÀN VĂN HỌC VIỆT - MỸ TẠI HUẾ


Từ trái sang: các nhà văn, nhà thơ Vĩnh Nguyên, Võ Quê, Kevin Bowen, Larry Heinemann, Bruce Weigl cùng trao đổi tại hành lang diễn đàn văn học Việt - Mỹ ngày 9-3 - Ảnh: THÁI LỘC

Văn chương nối 2 bờ đối nghịch” là nhận định của nhà văn Tô Nhuận Vỹ về sự hợp tác trong suốt 20 năm qua, giữa các nhà văn Mỹ và Việt Nam, trong việc nối lại quan hệ của hai quốc gia, tại diễn đàn Văn học Việt - Mỹ diễn ra ở Huế ngày 9-3.

Trong nỗ lực đó, các nhà văn Mỹ, tập trung dưới ngôi nhà với cái tên đã trở nên quá thân quen: Trung tâm William Joiner (WJC), đã đóng một vai trò rất quan trọng. "WJC đã là chiếc tàu phá băng giữa lúc quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ còn đóng băng. Các anh đã làm được nhiều việc mà ngay các nhà chính trị cũng phải ngạc nhiên!" - nhà văn Tô Nhuận Vỹ dẫn lời của nhà thơ Nguyễn Khoa Ðiềm nhận được sự đồng tình của các nhà văn - cựu binh Việt Nam và Mỹ tại diễn đàn.

Ðồng tình bởi trong hơn 100 nhà văn có mặt tại diễn đàn, không ít người đã đồng hành với những việc làm của WJC trong suốt 20 năm qua. WJC là một tổ chức do các cựu binh Mỹ thành lập với chức năng nghiên cứu hậu quả chiến tranh do người Mỹ thực hiện tại Việt Nam, nhưng thay vì thực hiện những điều tra, thống kê về xã hội học, họ lại chọn văn chương để làm cầu nối qua "đại dương băng giá" của quan hệ Mỹ - Việt sau chiến tranh. "Ðó là một quyết định dũng cảm và khó khăn nhất, vì nó làm thay đổi toàn bộ cuộc sống của họ", nhà thơ Hữu Thỉnh - chủ tịch Hội Nhà văn VN - đã bày tỏ chân tình với những người bạn Mỹ có mặt tại diễn đàn này.

Theo nhà thơ Hữu Thỉnh, WJC đã chủ động tác động liên tục và mạnh mẽ vào chính khách, trí thức và công chúng Mỹ nhằm phá bỏ hàng rào cấm vận và góp phần thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ của Mỹ đối với VN; đã mời trên 100 nhà văn, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu VN sang Mỹ để tuyên truyền về đất nước và con người VN; dịch và ấn hành rất nhiều tuyển tập văn thơ VN sang tiếng Anh ở Mỹ; góp phần không nhỏ vào việc thay đổi cách nhìn của không ít người Mỹ về VN...


Với những hoạt động "kêu gào" Chính phủ Mỹ bình thường hóa với Việt Nam, WJC từng trải qua không biết bao nhiêu nghi kỵ, ngăn cản, thậm chí đe dọa đến tính mạng, kể cả những người thân của họ. Theo nhà văn Tô Nhuận Vỹ, nỗ lực của WJC không chỉ thúc đẩy sự bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ mà còn kiên trì hàn gắn "sự tan nát giữa những người Việt Nam từng đứng trong hai chiến hào đối nghịch".

Còn nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn rất ngạc nhiên trước sự thủy chung, bền bỉ theo đuổi trong suốt mấy chục năm không hề thay đổi của những nhà văn - cựu binh WJC đối với Việt Nam: "Tôi cho rằng họ đã yêu dân tộc này một cách nhẫn nại. Có những lúc họ cũng rất khó khăn trong tiền bạc, đi lại, thậm chí họ từng phải điều trần trước Quốc hội Mỹ khi giúp đỡ Việt Nam, từng mang tiếng là "bàn tay nối dài của cộng sản" ở Mỹ và là "người của CIA" ở Việt Nam!".

Nhà thơ Hữu Thỉnh cho rằng nhà văn cựu binh của cả hai bên đã góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, đặc biệt là các vết thương trong tâm hồn, trong tinh thần của con người, góp phần đưa hai nền văn hóa xích lại gần nhau trong sự đối thoại, khoan dung, trong tinh thần hướng về phía trước.

Nhà thơ Nguyễn Khoa Ðiềm gọi tên việc làm của nhà văn cựu binh hai phía, đặc biệt từ WJC, là hành trình sáng tạo văn học có một không hai trong thế giới hiện đại như là những kẻ từng so gươm với nhau trong cuộc chiến đã có thể chia sẻ cảm xúc văn học bên nhau trong những ngày hòa bình.

Không nói nhiều về những việc đã làm, nhà văn Kevin Bowen - nguyên giám đốc WJC - đại diện cho chín nhà văn Mỹ tham gia diễn đàn, chia sẻ: "Chúng ta đã tập hợp được sức mạnh qua những ước mơ mà chúng ta cùng sẻ chia: đơn giản là chúng ta muốn hiểu hơn về những con người khác; là những cựu binh ước mong chia sẻ và tập hợp những ký ức từng chia rẽ chúng ta. Và cuối cùng là nhà văn, chúng ta ước vọng làm giàu cho chính chúng ta với kiến thức về gốc rễ và ngọn ngành của những nền văn học và văn hóa khác nhau".

THÁI LỘC (TTO)

BẤT CHỢT - HOÀNG THỊ THIỀU ANH



Bất chợt một ngày
Bất chợt nắng…
Bất chợt một ngày
Bất chợt mưa…

Bất chợt xa Anh
Bất chợt nhớ
Bất chợt mộng về
Bất chợt
Yêu !

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

Tùy bút - Cầu vồng

Cầu vồng

Would you like to see the rainbow ? How many colors could you count ? 
Would you love to feel my heart , how many shades would you find ? 

If you look up in the sky , and see the blue hope from those clouds . 
How would you feel about that ? Paint that blue shade on my eyelids  

The warm heat from the sun , blows the pink to my cheekbone . Only love unconditionally , from your pure heart. 
Darken the red on my lips -as sweet . 
Let the night wrap on my hair , with some drop of mild fog . To add more darkness and shine , so my hair will always fall and bounce . 

The Spring gives me some hopes , 
The Summer fills me with cheerfulness . 
The Autumn brings me some of its romance 
The Winter puts me down to rest . 

Holidays warm my life up , With lot of joy and wishes . 
But only you give me , the true love that I need . To understand ,what I mean to be 

Chiều nay nhạc sĩ X vừa gọi tôi : 
- Cô Mpn có rãnh không ? 
- Vâng ạ , xin anh cứ nói. 
- Không nói mà hát , anh muốn cô nghe thử melody của bài hát , rồi cho anh ý kiến nhá ! 


- Sao ? Mpn thấy thế nào ? 
- Hay , hay ghê cơ ! Anh giỏi thật đó. Điệu nhạc nghe vui , đẹp và rất dạt dào. 
- Vậy có giống như " e " của mpn không ? 
- Dạ không , melody của anh hay hơn nhiều. 
- Trời ! Mừng thiệt nghe. Hôm qua hát thử cho mấy người bạn nghe , họ cũng nói được lắm. Hát cho thi sĩ nghe mà hơi run , nhỡ lại bị chê. 
- Chê thế nào ? Em không biết làm nhạc thôi , nhưng rất biết thưởng thức mà...Thôi , em hiểu rồi ! Chắc tại nhạc sĩ thấy em lanh chanh , hay ý kiến ý cọ lung tung. 
- Vậy là OK melody há ! Bây giờ anh sẽ gởi bản nhạc đó qua cho em nghe kỹ lại. Rồi viết lại lời Việt theo melody đó cho anh nhá ! 
- Ủa , sao kỳ vậy ? Em đã gởi anh song ngữ mà. 
- Vì anh có cảm hứng làm phần tiếng Anh trước , khi sang tiếng Việt bị trục trặc. Tiếng Việt có dấu không hợp với melody này. 
-Whoa ! Anh bị sập bẫy rồi. 
- Bẫy ? Thơ của Mpn có bẫy nữa sao . 
- Là vậy nè ,thường khi làm những bài song ngữ. Mpn làm tiếng Việt trước , sau đó dịch tiếng Anh. Nhưng riêng với bài này thì tiếng Anh lại phọt ra trong đầu em trước. Sau đó em dịch tiếng Việt , và em phát hiện làm cách này dễ hơn. 
- À...à , nghĩa là anh cũng có cảm hứng với tiếng anh trước , nên bị sập bẫy...hihihi...Mpn nói chuyện ngộ ghê ! 
- Em xin lỗi , đừng cười em chứ. Người ta nghĩ sao nói vậy thôi à ! Văn nói đâu cần trau chuốt như văn viết hả anh. 


Cách đây mấy tuần , nhạc sĩ than với tôi , anh đang gặp khó khăn vì chưa tìm ra giọng nữ cho một bài hát mới ra lò. Tôi rất thiệt thà đưa ra ý kiến 
- Nếu anh vẫn tìm không ra thì để em hát phụ với. 
- Thôi đi , giọng em chỉ có hát nhạc thiếu nhi thôi. 
- Gì...tệ vậy ! 
- Chứ còn gì nữa , giọng gì...nhí quá hà. Con cò be bé , nó đậu cành tre... 

Ờ , mà nghĩ cũng kỳ thiệt , tại sao với thời gian cái gì cũng đổi mà giọng vẫn không đổi há ? Thỉnh thoảng, mấy người bạn của ông xã gọi lại nhà , Mpn vừa ngấc phone lên : A lô ! 
- Có ba ở nhà không con ? Bác B đây. 
- Dạ...thưa , ba đi vắng. Chỉ có mẹ ở nhà. Bác B cần gì không ? 
- Thôi khỏi đâu , bữa nay mẹ ở nhà hả ? Lúc khác bác gọi. 



Hôm nay tôi lại học được chút xíu về music compose . Theo lời nhạc sĩ X thì làm nhạc bằng tiếng Anh dễ hơn tiếng Việt . Vậy là mấy ông nhạc sĩ Việt mình giỏi quá chừng . Tiếng Việt có tới 6 dấu , phải tìm cách nào cho hợp với bảy nốt nhạc . Đó là chưa kể điệp âm , luyến láy , ngân nga .Nghĩ mà thương cho mấy ông . Hèn gì nhạc sĩ Việt làm nhạc ngoại quốc thì nhiều , chẳng thấy ông ngoại quốc nào làm nhạc Việt . Vậy mà mỗi khi nghe nhạc song ngữ , tôi cứ hay chê ỏng chê eo . Chẳng hạn bài " Woman in love " 

" ... I am the woman in love , I can do anything , for you anh to my love . What woman can do . 
It' s a right ! I defend , over and over , again . What do I do ... " 

Khi nghe cô ca sĩ Ánh Minh hát bài này lời Việt , tôi thấy nó sao sao á . Giống như ...trật đường ray ... 
Cho nên trước giờ tôi chỉ thích nghe bản này bằng Anh ngữ . 


Hôm trước khi nhạc sĩ N C Chiếu gởi tặng tôi bài " Về đâu nổi nhớ " mà anh đã cảm tác từ bài " Chiếc lá cuối cùng " của tôi. Tôi có hơi thất vọng , vì sao nhạc sĩ lại không phổ thơ tôi mà chỉ cảm tác. Anh đã trả lời : 
- Tôi có tật xấu như vậy nên ít khi dám phổ nhạc từ thơ. Đa số các thi sĩ lấy làm khó chịu. Bữa đó tình cờ đọc được bài Chiếc lá cuối cùng , tôi thật sự rung động bởi hồn thơ mpn nên mới cảm tác. 

Mặc dù anh chỉ giải thích thế , nhưng giờ tôi hiểu , có thể là melody. Mỗi nhạc sĩ có làn hơi và sở thích riêng biệt , và cảm hứng chỉ đến cho những sự riêng biệt đó. Cũng như tôi khi làm thơ , tôi thích thơ mới , ngũ ngôn hay thất ngôn không cần theo niêm luật. Cả tháng nay tôi không có thi hứng , chỉ viết nhiều mà không có thì giờ để post. Gần đây còn có nhã hứng chụp hình và muốn học cả photoshop. Tôi ước chi một ngày có 48 tiếng , tha hồ xài... 

Tôi email cho nhạc sĩ , " những bài thơ của mpn , là chút yếu đuối , ủy mị rất đàn bà. Những nổi niềm xao xuyến chợt đến , chợt đi. Nếu có thể giúp nhạc sĩ bật ra nhã hứng và đưa nó vào đời bằng giòng nhạc điêu luyện của anh. Mpn cảm thấy vui lắm , kể như em cũng có chút đóng góp. Xin nhạc sĩ cứ tự nhiên mà xử dụng bất cứ bài thơ nào..." 

" Cám ơn em đã chia sẻ ! " 


Mấy tuần trước , gởi bài ngũ ngôn cho nhạc sĩ X , tôi chỉ muốn xem thử anh có cảm xúc gì với nó không ? Chỉ qua một đêm , anh đã hát thử cho tôi nghe - Y chang melody mà tôi đã tự xướng lên khi làm bài thơ. Đó là thói quen của tôi với những bài thơ mà tôi tâm đắc. Còn đối với những bài thơ họa thi tôi không thể nào hát được. Với những bài lục bát thì tôi thường ngâm. 

Tôi giải thích nội dung bài thơ cho nhạc sĩ X nghe 
- Đây không phải là mối tình trai gái bình thường , chính là mối tri kỷ tương giao. Chàng và nàng chỉ đến với nhau qua câu thơ con chữ , họ không có ý định bước vào đời nhau. Vì vậy anh phải thổi hồn cho nó thật bay bỗng , nhẹ nhàng mà sâu lắng. Nhạc đệm phải thật mộc, càng đơn giản càng tốt. 
- Trời ơi khó vậy ta , sao càng ngày càng đi anh vậy ? 
- Em đâu có đì...chỉ order thôi mà. Nhạc sĩ hãy thử theo lối phá cách một chút. Hơi cổ một tí đi anh , giống như Ngày xưa Hoàng thị vậy đó. 
- Trời ơi cô nương à. Bài đó của ông Phạm Duy nổi tiếng , còn thơ của ông Phạm Thiên Thư cũng quá xá nổi luôn. Anh với mpn vô danh mà...hahaha...hahaha 
- Em hổng biết đâu , nếu anh hổng có cảm xúc thì thôi bỏ qua. Thi đàn thiếu gì thi sĩ cho anh chọn. Còn nếu anh muốn làm thì phải thiệt hay cho em. Anh nói đi , anh muốn bản nhạc sống bao lâu trong lòng người nghe ? 30-40-hay 50 năm. 
- Trời , anh chết mất tiêu rồi. Anh chỉ cần 5 năm là đủ thấy hạnh phúc rồi. 
- Sao nhạc sĩ không có lòng tin với chính mình vậy ? Lần đầu tiên khi anh hát thử bài vừa phổ thơ mpn , lúc đó dù hổng biết anh là ai mà em đã reo lên " Anh sẽ làm nên tên tuổi cho em " 
- Anh run quá , rủi anh không làm được thì sao ? 
- Đường mình gắn sức đi thì phải tới chứ anh ! 

Hehehe...nhạc sĩ cười thật thoải mái qua phone. Hy vọng anh có một ngày vui vẻ. Ngoài anh ra , không biết có nhạc sĩ nào chịu chìu theo bà thi sĩ khùng này hông ? 

---Muaphonui---