Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

ANH ĐI ... - PHAN LỆ DUNG



Anh đi từ hôm qua
Con đường lặng lẽ
gió thổi từ phía chân trời
Hoa khế lưa thưa rơi giữa thinh không.

Anh đi từ hôm qua
Trời mưa
Hoàng hôn đông đặc
Trái táo lăn trên chiếc bàn cũ kỷ
Chiếc nhẫn cỏ ướt
Nụ cười búp bê nhàu nát và chú mèo hoang
Ngoài kia bước chân mùa thu lạc lõng.

Còn gì nữa.
Tôi mơ ngày gặp lại
Ôi,biết bao giờ.

Gió thổi những hạt mưa phất phơ trên tóc.
Tôi đi tìm anh
Tìm mưa
Chiều ơi.

CHẮP TAY DÒNG ĐỜI ( KỲ 13 ) - VÕ CHÂN CỬU

Lá Cỏ và Sao Lạp

Sài Gòn-chốn ngựa xe xô bồ, tới nay vẫn là vùng đất của dân nhập cư. Mỗi giai đoạn, diện mạo văn học của nó đều tiêu biểu cho sự tổng hợp.
Những người nghèo vào Sài Gòn thường kiếm sống bằng chạy xe ôm, làm thợ hồ hay phu khuân vác. Nếu hỏi anh bỏ quê vô đây làm gì, mọi người dễ nghe câu trả lời: để làm thơ ! (giọng người từ Quảng Nam đến Phú Yên thường phát âm chữ thuê thành “thuơ”).
Chuyện tiếu lâm nêu trên cho thấy những miền đất khắc nghiệt thường sản sinh ra nhiều người làm thơ (Thực tế khá nhiều người có tài, đã thành danh). Tình hình đó nay đã khác. Có thể do khá nhiều nhà lãnh đạo khi có công danh muốn chứng tỏ mình thuộc dòng…văn hiến, nên sáng tác nhiều thơ, dễ nhất là theo lối…Bút Tre. Cấp dưới xum xoe, xưng tụng, riết thành “phong trào”. Để hủy diệt một giá trị tinh thần, cách hay nhất là đánh đồng nó với đầy dẫy những sản phẩm tầm thường. Chế độ tự do xuất bản ở xã hội tư bản khiến mỗi nhà xuất bản phải tự bảo vệ thương hiệu của mình, chỉ in ra những tác phẩm đáng đọc, không nhằm vào mục đích thu “quản lý phí”. “Tác giả tự xuất bản” có thể tạo ra dư luận nếu tác phẩm có giá trị văn học.
Văn học Miền Nam (VHMN) chỉ tồn tại có 21 năm đã sản sinh ra nhiều cây bút-dù thuộc phái “viễn mơ” hay “hiện thực”- nhưng đều có tính cách riêng. Các nhà làm văn học sử sẽ tổng hợp các điều kiện xã hội, nguồn tư tưởng thời đại để phân tích ra các xu hướng sáng tác. Hạnh phúc tình yêu và cõi vĩnh hằng-bất tử vẫn là 2 ngã hướng tới của những người làm ra cái đẹp nghệ thuật. Nhưng VHMN giai đoạn này, có thể do sự sống và cái chết quá liền kề, tất cả đều ngắn ngủi nên 2 lĩnh vực trên gần như có sự pha trộn. Cái đẹp tầm thường có thể là sự linh thiêng, cứu rỗi. Ngôn ngữ diễn đạt trong thơ, đã có những nhịp điệu tìm kiếm riêng.

Qua Vùng Chiến Tranh
Ta nghe chính tại nơi này
Năm rồi trận đánh phơi thây hàng ngàn
Bây giờ cây mởn lá xanh
Gió xôn xao thổi cỏ tranh ngập đầu
Máu xương dấu tích còn đâu
Còn trơ lô cốt bên cầu bỏ hoang
Gạch vôi lở loét rêu phong
Tường xiên xiên ngã theo dòng thời gian.
(Sưu tập của VCHC)

Ca tụng thân xác
Trần Đức Uyển, người khởi đầu làm thơ từ nhóm Tạp chí Văn nghệ (sau này ông nổi tiếng hơn với bút hiệu Tú Kếu làm thơ trào phúng) từ giữa những những năm 1960 đã ghi nhận sự vô nghĩa của cuộc chiến tranh, điều mà Nguyễn Bắc Sơn sau này xem đó là “như một trò chơi”. Trước tình cảnh đó, một số cây bút trẻ có xu hương đi vào “tìm sự giải thoát”. Trước tiên là cái đẹp của tình yêu, có khi pha chút “tưởng tượng thân xác”. Nguyễn Tôn Nhan, vào 1970 sau khi ngắm “Áo Ai Bay Trên Lầu Cũ” và ồ lên “Trăng cổ lâu ồ trăng cổ thi/Người ơi cho nhớ chút xiêm y”, đã xúc cảm quẩn quanh hơn:
Chỉ Có Lá Cỏ Là
Chỉ có lá cỏ là
Rỉ máu năm mười ba
Chỉ có cô tiểu thoa
Là rên năm mười tám

Chỉ có em là đáng
Xỏ mũi anh suốt đời
Chỉ có cỏ lá ơi.
(Tuần báo Khởi Hành)
Cùng với Nguyễn Tôn Nhan, Đặng Tấn Tới từ vùng đất Bình Định bày tỏ sự say đắm với hình tượng này (về sau hai người trở thành sui gia) :

Chơi Lá Cỏ
Em về chơi lá cỏ
Hát mấy ngõ thanh xuân
Ta vào trong hội mừng
Quên hết màu sinh diệt
(Thi tập Trúc Biếc, 1971)
“Lá cỏ”, biểu tượng cho thiên nhiên thuần khiết hay sức sống căng đầy của các nàng thiếu nữ ? Biểu tượng tình yêu gắn liền với sự sinh tồn, biểu tượng của thân xác và cách sống hiện sinh thâm nhập từ các tư tưởng triết học của thời đại đã được các thi sĩ diễn tả. Một nhà thơ khác là Hoa Tưởng Dung, (bút danh chỉ xuất hiện đôi lần trên vài tạp chí) bày tỏ cụ thể hơn về khoảng cách giữa hữu hạn và vô hạn:

Thiên tinh
Không ai hay biết
Ta là hương thơm
Sống còn hủy diệt
Trong làn gió vương !

Không ai hay biết
Tình cờ! Tài năng !
Vừa mới thoảng đến
Công trình đã xong !

Không ai thấu rõ
Tài trí tuyệt vời
Chờ bao lầm lỡ !

Không ai tỏ hay
Thời gian vú bày
Giữa hai áo ngủ !

Thơ lúc này có xu hướng mang hình thái tư duy của triết học . May mắn là khúc cuối bài thơ xác định được “cái đẹp” sẽ là sự cứu rỗi cho mỗi người như kết luận của một số triết gia. “Cái đẹp” không nằm ngoài thân xác. Một giáo sư triết học nổi tiếng lúc này cũng cho in hẳn một cuốn sách về đề tài này: Ca Tụng Thân Xác.

Mong manh “Sao Lạp”
“Quên hết màu sinh diệt” bằng đường “ca ngợi thân xác” có khi là sự chạy trốn không thành. Nhà thơ có khi vì chiến tranh và xã hội vây hãm nên đã tự mình tìm vào nẻo thần bí nào đó. Tôn giáo, có khi là một cứu cánh, nhưng với người làm thơ, tôn giáo lại đậm màu tư duy về cõi vô cùng. Phạm Phú Hải, một người làm thơ lặng lẽ ở Đà Nẵng, không gửi in báo nào ghi lại cảm thức ấy như sau:

Chùa Phổ Đà Nẵng
Lạnh mùa thu ở trong núi đá
Có con cá nhỏ chết bên cầu
Có con chim nhỏ vì vui qúa
Cũng chết bên cầu ấy bữa xưa

Có gã thư sinh lên núi đá
Hỏi thăm đường đến chốn bất lai
Trăng khuya úp mở sa ngàn lá
Bướm đã đàn đàn chấp chới bay

Có lão tiều phu trong núi đá
Mười năm say hương quế quên về
Lều dựng gió đẩy rung mái gió
Một bầu cổ nguyệt chảy tràn khuya

Trăng khuyết xuôi, trăng tròn, trăng khuyết ngược
Bứt tháng, hái ngày, phơi khô năm
Năm khô, rau mới đùn rau cũ
Sợi sợi án ngời vô lượng quang

Xuất định bốn bề sương giọt giọt
Con chim xưa sống lại bên cầu
Tiều lão mặt trời vai tịch tịch
Mặt trời rơi xuống giữa dòng sâu

Chẳng đến đâu, chẳng từ đâu đến
Con chim ngày cũ hót inh rừng
Một cầu lặng ngắm hai dòng nước
Một chảy xuôi đông, một ngược nguồn

Không ở đâu, không đâu chẳng ở
Cá hồi dương lội ngược chiêm bao
Cầu gãy hai bờ xương tương ngộ
Trùng phùng từ hội đất chiêm bao

Mùa thu núi đá lạnh vô cùng

(Bản thảo gửi VCHC, 1972)

Nhiều nhà phê bình lúc này gán ghép những nguồn thơ mang dấu vết “suy tư” nói trên vào dòng thơ Thiền. Có thể ảnh hưởng của triết học Phật giáo lúc này lan tỏa rộng. Nhiều người lại nói rằng “thơ Thiền”, trong cách biểu hiện, phải gần với một “công án”, nên cho rằng đó là dòng thơ “tâm linh”. Thực ra, để thành thơ, thì nó phải mang hoặc xuất phát từ cõi tâm linh-trừ những “nhà dùng thơ” dùng văn vần vào mục tiêu “phục vụ” hay rao giảng. Nhìn rộng ra, trong VHMN từ những năm 1950 đã có nhiều người đi theo khuynh hướng. này. Như Thạch Trung Giả, nhà nghiên cứu và là một thầy giáo nổi tiếng ở Nha Trang qua bài “Đàn Sao Lạp”:

Đàn rơi tiếng trầm
Sao rớt từng không
Sao không còn tăm
Đàn dư tiếng dội
Gieo trong lòng đàn
Sao trên Đại Hoàn
Đàn trong U Để
Lạp kia se sẽ
Hồng rung ngập ngừng

Phải chăng cẩm âm
Vào trong tiếng lạp.

Giữa bất an của đời sống hiện thực, dòng thơ tâm linh giúp con người nhận ra thế giới vi diệu và kỳ diệu, đáng sống hơn. Những dòng thơ khác, nếu thực là thơ, sẽ tác động đến tâm hồn ra sao ?

(Còn tiếp)

SAU CHIẾN TRANH - NGUYỄN MIÊN THẢO

Khi những người chiến thắng hân hoan đi khắp phố phường
nói những điều tôt đẹp
Đó là những điều chính đáng đổi bằng máu xương
của những người đã chết

Cũng là lúc mà những người vô tội khác
Bắt đầu cuôc sống lầm than
Ông giáo sư thất nghiệp
suốt ngày đi ngoài đường dáo dát tìm trong vô vọng
một chiếc bóp hay vài đồng tiền đánh rơi của ai đó
Những cô gái hôm qua còn ngồi ở giảng đường đại học
Phải bán thân nuôi gia đình

Sự ly tán ,chia lìa, nghèo đói bắt đầu một cách khác
Trước và sau cuộc chiến không có gì khác nhau
Một sự hoán vị nỗi bất hạnh của người này thay cho người khác
Như đổi một chiếc áo
Ở đó bắt đầu những sự cưỡng đoạt mới
Chiến tranh cưỡng đoạt con người bằng cái chết
Hòa bình cưỡng đoạt con người bằng sự sống
Cái chết và sự sống chưa hẵn cái nào bất hạnh hơn
Đôi khi chết còn hơn sống

Tôi nghiệm ra mốt điều
Sự sống mỗi người đôi khi chỉ là áp đặt

Khi ra đời
Không ai có quyền chọn lựa ở nơi nào
Chọn lựa cha mẹ
Chọn lựa anh em
Chọn lưa miền nam,miền bắc
Nghèo hèn hay giàu sang
Thôn quê hay thành thị
Con trai hay con gái
Nhưng người ta có quyền chọn lựa cách sống của chính mình
Đó chính là điều tai họa
Là cái ác nẩy mầm
Là sự phản kháng
Là sự ngộ nhận về tự do
Là chân lý không chân lý

Sự đòi hỏi được ăn no,được sống giàu sang
Là điều chính đáng
Nhưng không phải là sự cướp đoạt của người khác
Đó là điều vô cùng giản dị
Nhưng sau chiến tranh
Điều đó thường xảy ra



Lòng tham và sự độc ác
Sau chiến tranh
Điều đó thường xảy ra

Người ta có quyền say sưa chiến thắng
Nhưng đằng sau nó
Sự vô luân luôn tiềm ẩn

Khi sự vô luân biến thành quyền lực
Trở thành niềm say mê của nhiều người
Điều đó thường xảy ra

Mục đích của chiến tranh
Mà những người yếu thế hơn chính là sự bình an
Thường được gọi là chính nghĩa
Nhưng sau chiến tranh
Thường khi là sự đổi khác

Sau chiến tranh
Chưa hẵn là hòa bình

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2012

photos - Tưởng niệm

Tưởng niệm






Còn đó nỗi đau



Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Niệm



Lính mà em



Tiếc thương



xanh xanh niềm mơ

 -muaphonui-

photos - Khát vọng !

Khát vọng !





Tự do , có thể nào mua được ?





Không khát vọng ta như loài cây cỏ



Ánh sáng ngày mai



Tìm đường sống


Ta , linh hồn trọn vẹn khát khao .
--- muaphonui---

< Sửa đổi bởi: mưa phố núi -- 30.4.2012 11:30:35 >




thơ 11 - Khát vọng

Khát vọng

Tự do , nếu có thể mua được ?
Em sẽ mua bằng cả linh hồn .
Bình yên , nếu có thể đem bán ?
Em sẽ rao giá bằng con tim .

Bán con tim vẫn chảy giòng máu nóng
Mua linh hồn trọn vẹn khát khao .
Để hạnh phúc sẻ san đều cả ,
để mọi nhà rộn rã tim vui .

Anh đã cầm súng giữ gìn bờ cõi ,
Máu cha ông lớp lớp phơi thây.
Sao hòa lũy vẫn ngổn ngang vất vưởng ?
Những vong hồn khát lạnh bủa vây .

Rồi có lúc tự do ta sẽ nắm
Trãi thênh thang trên đất mẹ lụa là .
Tà áo mới sực thơm hương hạnh phúc .
Tự do trong lưu đày - là ý nghĩa hôm nay .

Mất niềm tin ta mất lòng kiêu hãnh
Mất tự do ta cam phận đọa đày .
Không khát vọng ta như loài cây cỏ
Tự do trong lưu đày - ta vẫn hát mê say .

Khát vọng ! Tia bình minh rực rỡ .
Khát vọng ! Là ánh sáng ngày mai .

---muaphonui---


Photos - Một góc yên tĩnh

Một góc yên tĩnh ...chiều thứ sáu .





Mưa phố núi đã làm việc ở thành phố này trên 10 năm .





Chiều thứ sáu ...thành phố vẫn hiền hòa như thế !



Góc phố để mưa phố núi tìm đến khi muốn tâm lắng đọng














Cửa chánh vào thư viện Laguna Hill - thư viện mới xây khoảng 3 năm







Cũng chẳng có gì mà vội vã


Photos by Mưa phố núi


Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

thơ 11 - Khoắc khoải SÀI GÒN



Khoắc khoải SÀI GÒN

Sao không còn là của riêng ta ?
Chiều từng chiều dạo qua từng con phố .
Nắng còn như xưa không ?
để anh ngại rát sạm má em .

Tháng tư !
cũng có thể bất chợt cơn mưa đổ .
Chẳng vội vả núp mưa đâu !
Hai đứa vẫn dầm mưa rảo chân trên phố .
Phố càng nhòa ta càng đắm say nhau ...

Tháng tư !
Nỗi khoắc khoải trong em gởi theo làn gió .
Anh Bình Dương , em Cali
vẫn chung một nỗi nhớ muộn màng .

Tình tàn , ta còn nguyên ký ức ,
xa quê hương càng đậm nỗi nhớ anh .

Nhớ cái giọng Bắc Kỳ nhè nhẹ ...
và tên anh em khắc tận đáy tim .

Xa Sài Gòn em đánh rơi kỷ niệm ,
Sài Gòn không anh còn đâu nữa Sài Gòn ?

Vẫn Sài Gòn xưa, bây giờ đổi thay nhiều quá
Về lại Sài Gòn mà vẫn không nhận ra .
Những con đường tình ta rảo bước ,
góc phố nào lỡ dở hẹn hò .

Chiều hai tám ngồi nghe anh hát ,
chưa ba mươi mà em sợ đêm đen !

Sài Gòn ơi ! Xin cứ là mãi mãi .
Đừng đổi tên - để ký ức nguyên hình .

---mưa phố núi ---




Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

Thơ song ngữ - Still Rose

Still Rose

For tattoo artist Jason Parker and model Denah


The gardener grew a rose bush on the hill
One day the artist went by and stood still
The blooming roses inspired him
to draw a beautiful on a hill
In a canvass which, in turn, inspired a tattooing artist still
To make his mark on the hill of different models
Who still dream of him
each time they look upon the rose on the hills


Nguyen Do






Còn mãi hoa hồng
tặng nghệ nhân xâm mình JASON PARER và người mẫu DENAH


Đồi hoang chợt nở một bụi hồng
Để một ngày người họa sỹ dừng chân
Bị đóa hồng làm ngẩn ngơ hồn phách
vẽ lên đồi hoang xao xuyến một nỗi niềm
Giá vẽ ngẫn ngơ -hồn họa sỹ thẫn thờ
In sâu vào ký ức ngọn đồi trong nổi nhớ
Người họa sỹ vẽ lại trên da người con gái yêu anh
để mỗi ngày họ được thỏa ngắm,nụ hồng trên đồi xưa dấu yêu

--- muaphonui---


EM ƠI , VỀ ĐÂU KHI NGÀY SẮP TẮT ! - CAO THOẠI CHÂU



Em đẹp như câu châm ngôn
Phủ lên tim tôi một lớp buồn
Và em đẹp như lời thề thốt
Thuở ban đầu trai gái phải lòng nhau

Tôi đi dò những bến sông sâu
Hỏi thăm từng kè đá
Tiếng róc rách trong đêm buồn bã
Con đò chiều vội vã sang sông
Vì sao em phủ một lớp buồn
Lên trái tim tôi có nhiều vết nứt

Tôi dò trong lùm cây bụi cỏ
Những kỷ niệm buồn rơi rớt hôm nao
Hỏi thăm từng cơn gió
Chiều thênh thang hỏi tiếng phi lao
Châm ngôn là những tiếng rì rào
Ngày chúng mình chia tay hôm ấy
Về đâu
Về đâu
Trước khi ngày sắp tắt

Tôi chờ em ở bến sông này
Tôm cá hiểu
Cây lá hiểu
Đàn sếu vòng vòng chia sẻ cùng tôi

Một mai nếu vỡ con thuyền
Tôi bám lấy rong bèo trên biển
Biển không phải là sông
Là chiếc ao nhà tắm ngày thơ ấu

Biển có sóng sầu lên cao vút
Như lúc hồn tôi nhớ châm ngôn
Trong tim tôi thánh thiện nỗi buồn
Như tiếng kinh cầu khi ngày tắt nắng
20-4-2012

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

CHUNG THÂN - NGUYỄN MIÊN THẢO

Em treo trái tim tật nguyền của tôi bản án tử hình
rồi đứng vỗ tay cười và bỏ đi biệt tích
Tôi thường trực với niềm hạnh phúc
hạnh phúc buồn
hạnh phúc nhớ
hạnh phúc cô đơn

Em giam cầm tôi trong niềm hoan lạc
cách nơi hành hình chỉ một bước chân
ở đó treo đầy hoa ly và cẩm chưóng
tuyệt không có một bông hồng

Em phán quyết rồi bỏ đi
bản án trở thành chung thân cấm cố
Tôi biết trái tim em không bao giờ yên ổn
ngày tôi trở thành tội đồ
của niềm hạnh phúc .

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Thơ song ngữ - Love me -don't you ?

Love me - don't you ?


At the Heaven 's Gates
I 'm still waiting for you .
Come and fly with me , please !
on the wings that sparkle like the stars .

Don't leave me alone ...
Heaven so vast and spacious .
Why don't you fly with me ?
to the Heaven of wishes .
We 're a couple would like to explore the love ,
of its pure , without sensual , jealousy , resent .

My darling , come with me to that Heaven.
Bring along your full wishes of hope .
Here are my red lips just for you .
Would you like to say - you love me ?
Would you love to pray for ours wishes ?
True love - still hope - peaceful
We have mystery rains of memories ,
just like Pearls sprinkel on the path .
The White Champaca 's aroma ,
romance enter the night .

I'm with you always
to be a red Rose of love ,
in the beautiful garden, at Heaven 's Gates
Love me , don't you ? Fisrt love .

---mưa phố núi ---





Hãy Yêu Em

Trên ngưỡng cửa thiên đường ...
Em vẫn đợi chờ anh .
Hãy hòa cùng em đôi cánh
lấp lánh muôn ngàn tinh tú trong đêm .

Đừng bỏ em một mình ,
thiên đường dài và rộng ...
Hãy cùng em ta chấp chung đôi cánh ,
thiên đường thênh thang chỉ của mình .
Những kẻ biết yêu bằng tình yêu chân chính .
Không đẫm màu sắc dục ,
Không có hận thù , không cưỡng đoạt tình nhau .

Anh !
hãy bay cùng em về thiên đường đó .
Khi khát vọng còn nguyên màu chín đỏ ,
đọng bờ môi lóng lánh dấu yêu .

Hãy cầu nguyện cho tình ,
hãy đọc kinh hãm mình .
Khi mà tình , gói trọn vào niềm tin .
Chúa Ba Ngôi , ta có chân - thiện -mỹ .
Có những hạt mưa ngâu ...
Trãi ngọc ngà đưa lối .
Có hương thơm Ngọc Lan ,
Thả dìu dịu vào đêm .

Có em bên anh ,
làm nụ tình chín đỏ .
Là vườn yêu , thiên đàng mở ngỏ ...
Hãy yêu em ! Tình đầu .

---mưa phố núi ---



CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2012 ( KỲ 109 )



NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ


1.091 - Nguyễn Hữu Hanh
CHUYÊN GIA KINH TẾ THẤT CƠ LỠ VẬN
Tiến sĩ kinh tế Việt kiều Mỹ sinh 1923 tại Huế. Sống ở Mỹ (2012).
Tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Pháp.
Về miền Nam với tham vọng “phục vụ đất nước như là mục tiêu tối thượng của đời mình”. Lần lượt nắm giữ nhiều chức vị lãnh đạo kinh tế quan trọng từ thời Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu như Cố vấn kinh tế, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Tổng ủy viên đặc trách kinh tế – tài chính trong chính phủ…
Nhưng thực tế không cho phép làm được gì nhiều do tình hình chính trị miền Nam ngày càng rơi vào rối ren liên tục thay đổi chính quyền, nhân sự. Thất vọng, năm 1968 qua Mỹ lại làm cố vấn và chuyên viên cao cấp cho các tổ chức kinh tế quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF.
Tuy nhiên con đường sự nghiệp vẫn gặp trắc trở, năm 1981 xảy ra bất đồng quan điểm nên từ chức khỏi IMF.
Dù vậy vẫn còn nặng lòng với quê hương nên năm 1991 khi VN bắt đầu tiến hành Đổi mới liền quay về nước tìm cơ hội đóng góp cho nền kinh tế đất nước. Nhưng 4 lần trở về từ đó đến năm 1994 một lần nữa vẫn không làm gì được do đụng phải cơ chế bảo thủ quan liêu bao cấp chưa kể thành kiến chính trị.
Đành tay trắng trở về Mỹ ở ẩn viết hồi ký “Câu chuyện đời tôi” in năm 2004.

1.092 - Nguyễn Hữu Hạnh
NGƯỜI PHÁT LỆNH ĐẦU HÀNG
Chuẩn tướng VNCH sinh 1923 tại Mỹ Tho. Sống ở TPHCM (2012).
Nguyên thuộc cấp của tướng Dương Văn Minh từ thời đi lính Pháp đến thời Ngô Đình Diệm.
Vì vậy, sau khi tướng Dương văn Minh đảo chính Ngô Đình Diệm rồi đến lượt mình bị nhóm “tướng trẻ” Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ lật đổ thì bản thân rơi vào bất mãn chế độ. Từ đó năm 1970 khi còn là đại tá ở Cần Thơ đã được Cộng sản móc nối làm cơ sở “nội gián” trước khi được thăng chuẩn tướng.
Năm 1974 về hưu.
Đến khi tướng Dương văn Minh lên nắm chức Tổng thống VNCH 2 ngày cuối cùng cuối tháng 4.1975 đã được gọi lại ra làm Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng quân lực VNCH. Từ đó đã tận dụng cơ hội vận động ông Minh chấp thuận “bàn giao” chính quyền cho Cộng sản.
Và đích thân mình lên Đài Phát thanh Sài Gòn đọc lời kêu gọi binh lính “hạ vũ khí” trước quân Cộng sản đang rầm rộ tiến vào Sài Gòn Thủ đô VNCH.
Sau đó dưới chế độ mới được đưa vào hàng ngũ “nhân sĩ” trong tổ chức Mặt trận Tổ quốc.
Một trường hợp là “kẻ phản bội” hay người thức thời giác ngộ Cách mạng như ông thầy đỡ đầu Dương Văn Minh để cho lịch sử công tâm đánh giá.

1.093 - Nguyễn Thành Tâm
HOA SEN CỨU ĐỜI CHẤT ĐỘC DA CAM
Lao động nghèo sinh 1995 tại Bình Thuận. Sống ở Bình Thuận (2012).
Vừa sinh ra đời đã bị dính di chứng CĐDC không biết từ ai từ đâu vì ngay sau đó đã bị cha mẹ bỏ rơi đem cho người cô nuôi nấng.
Lớn lên với cơ thể què quặt luôn mắc đủ thứ bệnh dai dẳng không khỏi, đầu óc lại không bình thường thuộc dạng tâm thần nhẹ.
Không học hành gì được nên không biết làm gì để kiếm sống. May mà sau đó ở địa phương rộ lên phong trào làm nghề gia công sơ chế hoa sen làm sản phẩm xuất khẩu như bóc vỏ sen, tách gương sen lấy hạt, moi tim sen… nghề đơn giản nên xin theo làm. Tuy sức khỏe không tốt, tâm thần không ổn định song được cái hiền lành chịu khó nên dần dà cũng làm được, không bằng ai nhưng ngày cũng kiếm được 40.000 đồng.
Cám ơn đời, nhờ “Phật độ” (hoa sen gắn liền hình tượng dân gian đức Phật) đã giúp mình không biến thành người vô dụng.

1.094 - Phạm Văn Tuấn
BỆNH VIÊM DA KHỚP XƯƠNG CẤP TÍNH
Người khuyết tật sinh 1979 tại Nghệ An. Sống ở Nghệ An (2012).
Cha bộ đội chiến đấu miền Nam trở về dính CĐDC nằm liệt một chỗ.
Còn bản thân mình đến 13 tuổi phát sinh di chứng hậu quả chất độc này khiến bị liệt nửa người, 2 chân không cử động được. Đi bệnh viện được chẩn đoán mắc bệnh hiếm viêm da khớp xương cấp tính khó chữa nổi, nó làm toàn bộ xương sống, xương cổ, xương tay cứng đờ không cử động.
Nằm viện một năm bác sĩ bó tay, đến lúc thể trạng sa sút không ăn uống được, toàn thân lạnh ngắt nên gia đình đành đưa về chuẩn bị lo hậu sự.
Không ngờ sau đó vẫn thoi thóp gượng dậy, sống cầm cự qua ngày trong cảnh nợ nần tiền chạy chữa bấy lâu. Dù vậy vẫn cố gắng tập đi xe lăn rồi đăng ký học lớp đồ họa và nhiếp ảnh ở TP Vinh. Qua đó được phát hiện có năng khiếu vẽ tranh.
Học xong quay về làng mở lớp dạy vẽ và chụp ảnh, trở thành “nghệ sĩ làng”.
Từ đó được một cô học trò nhỏ đem lòng yêu thương tình nguyện kết tóc xe duyên bất chấp bố mẹ ngăn cản đòi từ con. Rồi cũng sinh được một con trai đầu lòng.
Niềm vui sống được nhân đôi, mới đặt tên mới cho lớp học của mình là “Tuấn Hello” như một lời mời mở rộng vòng tay đón nhận cuộc đời, đón nhận mọi người đến với mình.

1.095 - Phan Khắc Từ
LINH MỤC CẤP TIẾN QUÁ ĐÀ
Tu sĩ Công giáo sinh 1941 tại Hải Phòng. Sống ở TPHCM (2012).
Trước 1975 làm phó xứ giáo xứ Vườn Xoài một giáo xứ lớn ở Quận 3 – TPHCM, nổi tiếng là linh mục tiến bộ thiên tả sát cánh cùng phong trào Thanh Lao Công (phong trào thanh niên hoạt động xã hội của Công giáo), cùng giới sinh viên chống chế độ Thiệu – Kỳ theo Mỹ. Hoạt động gắn bó với giới dân nghèo đô thị nên được tặng cho biệt danh “linh mục hốt rác”.
Trong thời gian này có tham gia hoạt động ngầm cho cộng sản, được kết nạp Đảng.
Vì thế sau 1975 trở thành linh mục “quốc doanh” làm trung gian giúp Nhà nước thành lập (kiêm giữ chức điều hành) Uy ban Đoàn kết Công giáo thân chính quyền độc lập với tổ chức Công giáo chính thống thuộc giáo quyền quốc tế Vatican. Từ đó vào Quốc hội 3 khóa liên tục, làm tổng biên tập tuần báo Công giáo và Dân tộc.
Tất nhiên hoạt động thân Cộng đó bị giới Công giáo truyền thống phản bác, chống đối.
Nhưng bên cạnh đó, bị phê phán nặng nhất – đối với cả giới ngoài Công giáo - là vấn đề đời tư trong thời gian đầu theo cộng sản trước 75 đã… có vợ và… 2 con! Vợ là một sinh viên gốc Bến Tre gặp trong phong trào đấu tranh đô thị sau này mới biết là… đảng viên, sau 75 từng làm bí thư quận đoàn ở TPHCM (nên vụ “phá giới” này có thể do Việt Cộng “gài”?).
Vụ tai tiếng bị vỡ lở công khai năm 1986 từ phía người vợ “bí mật” khiến bản thân chỉ còn biết biện hộ qua loa rằng chẳng qua ấy chỉ là “phút yếu lòng” nhất thời, nay không còn quan hệ nữa (chỉ thỉnh thoảng có đi thăm con thôi). Rằng đã báo cáo với đức Hồng y sẵn sàng xin ra đạo nhưng… không được chấp nhận!

1.096 - Phan Kim Thịnh
CHỦ BÁO VĂN HỌC “TRUNG LẬP”
Nhà báo sinh khoảng 1938 tại Hà Nam. Sống ở TPHCM (2012).
Di cư vào Nam 1954 đến năm 1962 làm chủ nhiệm bán nguyệt san “Văn Học” nổi tiếng ở miền Nam tồn tại lâu nhất cho đến tháng 3.1975 ra được tất cả 202 số.
Dù trên danh nghĩa làm chủ nhiệm tạp chí này nhưng thực tế tờ báo trải qua 2 giai đoạn phát triển khác hẳn nhau. Giai đoạn đầu từ 1962 – 1968 (86 số) tờ báo ban đầu khai sinh từ phong trào sinh viên đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm nên thực chất nội dung báo do nhóm Dương Kiền (nhà văn, nhà thơ) thực hiện nghiêng về tính thời sự chính trị – xã hội – văn hóa theo xu hướng trí thức dấn thân với ý hướng xây dựng hòa bình cho một xã hội miền Nam tự do dân chủ tiến bộ không Cộng sản. Nhìn chung có giá trị thời sự và trí thức chân chính đáng kể. Trong giai đoạn này bản thân (và vợ, một nhà thơ) chủ yếu chỉ đóng vai trò quản lý.
Nhưng từ năm sau năm 1968 tình hình chiến sự Nam – Bắc leo thang khốc liệt không còn phù hợp với lý tưởng đó nữa mà lại bị chính quyền nghi kỵ nên nhóm Dương Kiền rút lui (một số thành viên bị động viên vào quân đội VNCH, một vài người khác lại ly khai vào bưng theo mặt trận Giải phóng miền Nam (*). Bấy giờ tờ báo mới thực sự do ông chủ nhiệm lâu năm nắm toàn bộ thay đổi hình thức (khổ nhỏ hơn) lẫn nội dung bây giờ mang tính chất văn học đại chúng, kiểu khảo cổ “tầm chương trích cú” qua loại chuyên đề văn hóa, văn học trong nước lẫn quốc tế, cổ điển đến hiện đại (các tác giả, tác phẩm, chủ đề sáng tác…). Từ đó không còn giữ được giá trị uy tín như trước, chỉ trở thành một dạng tài liệu giáo khoa bổ sung cho giới học sinh sinh viên.
Đáng chú ý là trong loại chủ đề tác giả văn học VN đã giới thiệu cả những tác giả của miền Bắc hiện tại như Nam Cao, Thế Lữ, Tô Hoài, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư… chủ yếu về sự nghiệp thời Tiền chiến. Tuy nhiên đó cũng là một trường hợp “ngoại lệ” hiếm có dưới chế độ Thiệu – Kỳ “quân quản” miền Nam.
Sau 1975 vẫn ở lại TPHCM với một kho sách cá nhân sưu tầm lưu giữ từ lâu khá đồ sộ từng được sử dụng làm tài liệu thực hiện các chuyên đề báo Văn Học. Nay cũng rút từ đó ra để viết nhiều bài và in sách về các giai thoại, đời tư nhân vật lịch sử đã qua như cựu hoàng Bảo Đại, Trần Lệ Xuân (vợ Ngô Đình Nhu)… Bài và sách (bút danh Lý Nhân Phan Thứ Lang) khá ăn khách trên báo và nhà xuất bản ngành công an.
Chẳng những vậy, năm 2006 còn làm một chuyến viễn du đất Mỹ thăm con ở bên đó, gặp lại bạn bè cũ thời làm báo Văn Học nói chung đều vui vẻ cả!
------------------------------------------------
(*) Riêng thủ lĩnh Dương Kiền ra làm luật sư, sau 1975 qua định cư Na Uy.

1.097 - Phan Lạc Tiếp
CHUYÊN GIA VỚT VƯỢT BIÊN
Việt kiều Mỹ công nhân ngành tàu biển sinh tại Sơn Tây. Sống ở Mỹ (2012).
Thiếu tá hải quân VNCH từng làm hạm trưởng tàu tuần duyên rồi về Bộ Tư lệnh Hải quân ở Sài Gòn làm trưởng phòng. Có viết và xuất bản vài tập truyện ngắn nên có lúc được giao nhiệm vụ tâm lý chiến hải quân.
Trong biến cố 30.4.75 lên tàu di tản qua Mỹ.
Sau đó nhờ có chuyên môn hải quân nên được nhận vào làm ở một hãng đóng tàu lương cao.
Cũng do có chuyên môn này mà năm 1980 tham gia vào Ủy ban Cứu nạn người vượt biên VN với chức vụ giám đốc điều hành chiến dịch trực tiếp đi theo các chuyến tàu vận động từ nước ngoài ra biển Đông nằm chờ vớt người vượt biển tị nạn chính trị. Chiến dịch kéo dài 10 năm, đến 1990 mới giải tán ủy ban sau khi có thỏa thuận Việt – Mỹ về chính sách H.O và O.D.P cho phép quân nhân, công chức chế độ cũ qua Mỹ định cư hoặc đoàn tụ gia đình kể cả ở các nước khác.
Trong thời gian này có viết và in các tập bút ký ghi dấu một chặng đường lịch sử với cuộc đời nhiều truân chuyên đã trải qua không chỉ mình mà còn biết bao người cùng thế hệ nữa.
Năm 1994 trở về quê hương lần đầu tiên, ra tận miền Bắc thăm quê cha đất tổ. Từ đó về lại Mỹ viết cuốn bút ký khác “Quê nhà 40 năm trở lại” với một cái nhìn thông cảm rộng mở: “Dù muốn hay không chúng ta đã lớn lên và bị cuốn hút vào chiến tranh. Xã hội chúng, đất nước chúng ta theo tôi là nạn nhân của thời cuộc với tất cả những oan trái, tang thương, chia lìa, khốn khổ…”

1.098 - Phan Lạc Tuyên
DƯỚI 3 MÀU ÁO
Nhà dân tộc học sinh 1928 tại Sơn Tây – Mất 2011 ở TPHCM (84 tuổi).
Năm 1951 học lớp sĩ quan VN đầu tiên thời vua Bảo Đại do Pháp đào tạo. Đến 1954 theo đội quân này vào Nam phục vụ chế độ Ngô Đình Diệm.
Gia đình Công giáo nên được chế độ này khá tin dùng, năm 1957 cho đi học Mỹ. Về nước gắn lon đại úy làm chỉ huy phó lực lượng biệt động quân, binh chủng tinh nhuệ thứ ba (sau nhảy dù và thủy quân lục chiến) mới được thành lập của VNCH đóng quân ở Tây Ninh.
Đặc biệt thời này có sáng tác bài thơ “Tình quê hương” nổi tiếng sau khi được nhạc sĩ Đan Thọ phổ nhạc: “Anh về qua xóm nhỏ/ Em chờ dưới bóng dừa/ Nắng chiều lên mái tóc/ Tình quê hương đơn sơ…”
Có tinh thần quốc gia chống chế độ Ngô Đình Diệm độc tài gia đình trị nên năm 1960 dẫn đầu một liên đoàn biệt động quân tham gia cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm do một số chỉ huy binh chủng nhảy dù khởi xướng (Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông…) nhưng bất thành nên rút về Tây Ninh vượt biên giới qua Campuchia tị nạn chính trị. Vợ con ở nhà bị bắt giam, vợ chịu không nổi sau thành ra tâm thần luôn phải đưa vào dưỡng trí viện thời đó.
Trên đất Campuchia tham gia viết báo, cộng tác với một tờ báo có khuynh hướng thiên tả. Từ đó được Mặt trận Giải phóng miền Nam móc nối gia nhập Mặt trận rồi năm 1963 đưa ra Hà Nội làm một đại diện giới chống đối chế độ NĐ Diệm.
Nhưng dưới chế độ cộng sản chính thống ở miền Bắc, không được tin dùng (không kết nạp Đảng) nên không sử dụng về mặt quân sự nữa mà cho ngồi không một thời gian. Mãi tới năm 1971 mới cho đi học ở… Ba Lan ngành khoa học xã hội!
Đến ngày 30.4.1975 từ Ba Lan về thẳng TPHCM chứng kiến người em ruột sĩ quan VNCH cũng là một nhà thơ – bút danh Phan Lạc Giang Đông – đi cải tạo 13 năm rưỡi (1994 đi Mỹ diện H.O, đã mất 2001).
Được biên chế vào làm việc ở phân viện Khoa học Xã hội VN cơ sở TPHCM do đã tu nghiệp ngành dân tộc học ở Ba Lan. Từ đó chuyên tâm vào nghiên cứu dân tộc học, tôn giáo VN với một số đề tài điền dã về dân tộc Chăm, Chân Lạp…
Cuối đời còn nghiêng qua nghiên cứu Phật học, đi thuyết giảng ở các chùa. Ba năm trước khi mất quyết định quy y – pháp danh Nguyên Tuệ - vào ẩn tu luôn tại một ngôi chùa nhỏ ở TPHCM với niềm tin cuối đời mới tìm thấy:
“Diệu pháp chân như trăng tỏa sáng
Vô thường Bến Nghé lững lờ trôi.
Chân Lạp, Chiêm Thành vô thường cả,
Trí huệ mây trôi nẻo cuối trời.”

1.099 - Phan Nghị
VUA PHÓNG SỰ XÃ HỘI CẢ 2 CHẾ ĐỘ
Nhà báo sinh 1925 tại Hà Nội – Mất 2004 ở TPHCM (80 tuổi).
Thời trai trẻ ở Hà Nội từng có mặt trong Trung đoàn Bảo vệ Thủ đô hơn 50 ngày đẩy lui quân Pháp năm 1945. Nhưng sau đó ở lại Hà Nội bắt đầu sự nghiệp làm báo viết phóng sự chuyên nghiệp.
Năm 1954 di cư vào Nam tiếp tục làm phóng viên chỉ chuyên viết phóng sự xã hội. Thời Ngô Đình Diệm từng bị bắt giam vì có quan điểm chống đối chính quyền.
Nhưng ấy chỉ là nhất thời chứ chỉ tập trung vào nghề nghiệp viết phóng sự xã hội dài kỳ đăng báo. Nổi tiếng với loại đề tài gai góc (tệ nạn xã hội), phong cách thâm nhập thực tế tại chỗ sống thực, cách viết có duyên, hấp dẫn. Được xem là “đệ nhất phóng sự Sài thành”.
Thỉnh thoảng cũng có nhảy vào địa hạt phóng sự chiến trường trong đó có thiên phóng sự “Đường mòn Hồ Chí Minh” lên tận Trường Sơn ăn ngủ để lấy tư liệu và cảm hứng.
Phong cách sống cũng thế – “sống như chính những gì đã viết” – là “dân chơi” kiểu giang hồ đầy vẻ bụi đời, vui vẻ, thoải mái, bộc trực.
Sau 30.4.75 vẫn ở lại và la fmột trong số ít nhà báo chế độ cũ được phép tiếp tục hành nghề (có lẽ nhờ sự hỗ trợ của người thân, bạn bè thời chiến đấu bảo vệ Thủ đô nay từ Bắc vào). Tất nhiên chỉ viết các phóng sự xã hội vô thưởng vô phạt không dính líu gì đến chính trị cho các tạp chí là chính (và bài dịch báo Pháp).
Nhưng từ đó cũng để lại phóng sự “Phở Sài Gòn xưa và nay” đáng kể hay nhất thời này vốn báo chí chỉ thiên về phóng sự “tô hồng” kém chất luợng, giá trị. Đến thời cởi mở hơn còn viết vài phóng sự về “Xóm liều” ở Hà Nội, cà phê ôm đất Sài Gòn cũ…
Ngoài đời vẫn giữ được phong độ “khứa lão” chịu chơi hơn 70 tuổi còn mang găng tay phóng mô tô chạy ào ào!
Qua đời bệnh già, để lại 6 con (2 gái ở nước ngoài).

1.100 - Phan Thế Phương
“THẦN” TÔM ĐẦM PHÁ
Cán bộ nông nghiệp sinh tại Thừa Thiên - Huế – Mất 1991 ở Huế.
Sau 1975 làm giám đốc Sở Thủy sản Thừa Thiên - Huế.
Với phong cách làm việc bình dị gần dân, từ năm 1985 đã tận tụy hết lòng hướng dẫn cho ngư dân vùng đầm phá Tam Giang (huyện Quảng Điền) khởi nghiệp nghề nuôi tôm giúp thoát nghèo giàu lên thấy rõ.
Năm 1991 đang công tác ở Phan Thiết thì được tin ngư dân Tam Giang sau vụ thu hoạch mùa tôm trúng lớn mở tiệc mừng công lớn mời về dự nên vội vã lên xe ra về. Không ngờ nửa đường gặp tai nạn chết tại chỗ!
Dân phá Tam Giang đã lập miếu thờ tôn xưng là “Thần”, là ông tổ khai sinh nghề nuôi tôm đầm phá mỗi năm đều làm lễ giỗ trang trọng.
(Còn tiếp)


thơ 11 - Khúc tình xa

Khúc tình xa




Đàn tôi dìu dặt đêm hoang vắng ,
Nhịp thẩn thờ buông thả tìm lẻ loi .
Một tôi bâng khuâng trong nỗi nhớ
Một em hoang dại đến ngây ngô .

Góc phố vắng tiếng đàn rơi sâu lắng
Tiếng mưa rơi hòa nhập tiếng lòng .
Khúc khích tiếng em cười vang xa vắng
Chảy thành dòng ấm cơn mưa cuối đông .

Tiếng đàn tôi vẫn rơi , rơi giữa đời .
Phố đông người sao trống vắng riêng tôi ?
Em lẩn khất giữa cuộc đời chìm nổi
Hiểu được tôi khi nốt nhạc chơi vơi .

Đêm dịu dàng từ lời ru xưa cũ
Trời mù sương giăng ẩm ướt ngập hồn .
Oằn đôi vai tôi gánh đời nặng trĩu
Từ phương em thăm thẳm bóng đêm trôi ...

Nếu đi hết con đường mưa lầy lội
Nếm trãi đời bằng nghiệt ngã cuồng si
Tôi cũng sẻ mãi là riêng tôi đó
Riêng tiếng đàn lặng lẽ khúc tình xa .

Và đêm ơi ! cứ dài sâu nổi nhớ .
Một bóng tôi còm cõi giữa dòng đời .

---mưa phố núi ---



Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

VỌNG - HOÀNG THỊ THIỀU ANH



Một nỗi buồn không tên
Làm lòng ta quặn thắt
Giọt mưa nào
chao chát
Rớt xuống đời
chênh vênh

Anh!
Cứ thế
Lặng im
Người trơ như phổng đá
Em !
Vô tình
Rữa nát
Trong anh ...

Thơ - nguyễnthịLoanPhiên & @Eve -mpn

Ở MỘT CHỖ
rất gần nhau
______________________
nguyễnthịLoanPhiên & @Eve


Chạm vào em - vỡ òa điều hạnh phúc
Nụ hôn gần,môi ngòn ngọt chỗ em
Hương của tóc là điều vừa đắm đuối
Ánh mắt xa,tìm mãi cũng thành gần


Chạm vào nhau,tình chật làm nhung nhớ
Một buổi mưa như thế ở cạnh nhau
Vòng tay ấm pha lời tình bỡ ngỡ
Ở kề bên như sợ ngày qua mau

nguyễnthịLoanPhiên & @Eve



Nữa vầng trăng


Chạm vào anh - em thấy mình bối rối ...
Níu dịu dàng , buông thả thơ ngây .
Chạm tim anh - chạm đàn ong vỡ tổ
Chích em đau , sưng tấy vết thương tình .

Ta chạm mắt , đẩy lòng về phía trước
Vỗ lời yêu ru giấc cho nhau .
Ta chạm bóng để thấy mình lẩn trốn ...
Trọ tim nhau tìm bóng tối nhiệm màu .

Nếu bóng tối vẫn cứ là mãi mãi ...
Thì ánh trăng có phải của riêng ta ?
Ở một chổ ẩn say mê buốt giá ,
Nữa vầng trăng , em sẻ nữa thật thà .

mưa phố núi

 

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2012

thơ - Mưa Tím Ở Em


Mưa Tím Ở Em
___________________
 @nguyênhạ & đăng sơn.fr
mưa nho nhỏ trên cánh dù màu tím
em đi về ,đoạn đường ướt nhớ em
gió bềnh bồng trên cánh tóc cài bím
có lẽ rồi,anh cũng biết nhớ thêm

nhớ chừng ấy,biết khi nào mới đủ
chỗ đi về thăm thẳm một cõi riêng
em chừng đó vai tròn run run ướt
anh buổi chiều dịu dàng nỗi yêu thương

( quán mơ )
--      

Thơ - TỰ TÌNH XƯA



TỰ TÌNH XƯA______________________


Ừ - em - ừ.Em,tình yêu là như thế
Chút dỗi hờn, một chốc tự tình xưa
Xưa như ngón tay út dính trời mưa
Xưa như áo trắng tình em thời mới lớn
Ừ - Em

Có mùi ô mai trên tập vở
Có mùi hoa phượng ở đường đi
Anh gửi em lời nhắn buổi thầm thì
Em qua ngõ chiều hồn anh nhớ
Ừ thì anh chỉ biết ừ ừ
Em vẫn thế,vẫn ngồi trên bàn học
Ở một buổi ngày thi đến rồi
Tuổi mình mềm như lúa trên đồng vừa chín
Ừ thì thế
Tiếng ê a của trẻ ở trường làng
Anh đi qua lại thấy mà thương
Thương em tóc thả bờ vai nhỏ
Khi về nhà ,anh thăm thẳm nỗi nhớ nhung
Ừ, thì ừ như tiếng gọi
Trời đổ chiều trên cành cây đầy lá
Ai ngồi ngơ ngẩn dưới trời mây
Một lúc nhớ người,người nào hay

đăng sơn.fr

THƠ RỜI QUA TIN NHẮN - LÊ NGỌC THUẬN

1.
Buồn vô hậu nhớ vô chiêu
Rượu say say lại liêu xiêu với tình
Phải tâm vô bóng vô hình
Nên ta hồn vía lênh đênh phương nào
Suốt đời chân thấp chân cao
Bổn lai diện mục xới đào không ra
Phật trong ta vẫn là ta
Phật ngoài ta vẫn là ta yêu người
Phật không khóc Phật chỉ cười
Còn ta thì cứ làm người yêu em

2.
Nằm mơ thấy m.t
Ôm ni cô mà cười
Ta tưởng mình có vợ
Hóa ra còn độc thân

3.
Rượu cũng nhạt như trăng tháng hai
Lòng hư rối buồn đã man khai
Phố chợ xưa chừ không ai tới
Rượu nửa ly chừ ta đã say

4.
Ta yêu người trúng cung sát chủ
Nên cả đời xơ xác lôi thôi
Ôm đàn bà bốn phương tám hướng
Vẫn bóng hình xanh ngát vương phi

5
Cái đầu vô gia cư
Trái tim vô địa táng
Bạn bè đang bận yêu
Ta ngồi đây bí rị
Vô hậu buồn khó khăn

Đang Son fr. - SƯƠNG ĐÊM


ĐỂ CHIỀU NAYcòn lại chút mưa -________________


Rơi mưa nhỏ giọt chiều rơi
Rơi ta loãng một chút đời buồn tênh
Chạm tay ướt vách hồn mình
Thử tìm nụ ngọt trên vành môi xưa

Rơi em lãng đãng cuối muà
Chỗ ta ngồi nhớ bụi hoa rụng đều
Phải chi mưa dẫn đường em
Đến đây ta sẽ chia đều cơn mưa
đăng sơn.fr



-- để chiều nayCÒN LẠI CHÚT EM____________________


có những buổi chiều lặng thầm như thế
gió rưng rưng,ta cũng buồn rưng rưng
mưa muốn khóc trong lòng ai nhỏ bé
giọt thì thầm nơi chiếc lá giữa đường

có những lúc thấy mình ngồi im tiếng
nói không nói,mà cười thì cũng không
có phải tại ở xa nên trống vắng
có phải vì cứ thế mà mãi thương ?


đăng sơn.fr


SƯƠNG ĐÊM

nụ mắt đêm đào sâu thương nhớ
ướt giọt sương khuya ở môi mềm
nhớ tìm chỗ trọ trong hơi thở
thương về khuấy động khẽ nhắc tên

bờ vai ấy cúi nhẹ đón rừng tóc
ủ mùi son phấn thành hương yêu
ta loãng tan biến hình thành lời chúc
mỗi khi thao thức ở lưng đêm


Đang Son fr.

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012

Photos - Window shopping

Eve  loves window shopping


I have to hurry

Go catch big sale
 

So tired to buy nothing


Still money


Happy , even buy nothing


wow ! this 's so cool

The sun shine shared my smiles


Eve wishes she have more money
***
Photos by Yenni Giang 11 yrs
Mua pho nui 's daughter

CHẮP TAY DÒNG ĐỜI ( KỲ 12 ) - VÕ CHÂN CỬU

Nhịp sóng ngầm


Rừng xưa đã mất. Từ dọc triền núi cao ra tới biển, những nàng con gái ngày ngày đi lấy nước, Chiếc vò đội lên đầu, đôi gánh trên vai; em mảnh khảnh chiếc thùng đơn lẻ. “Nhịp hải hà”…


Từng có người nói rằng điệu thơ lục bát Việt Nam hình tượng từ bước đi của người phụ nữ. Thưở nhỏ, tôi chưa hiểu ra. Khi đã làm thơ, một hôm ngóng về bên kia bờ Cách Thử, nhớ làng. Mấy vần thơ chợt hiện lên, tôi mới tỏ tường:
…Bóng nàng kĩu kịt trên nương
Gánh giùm tôi trọn nỗi buồn nhân gian…
(Tân Thanh, Đại Mộng 1972)


Nhịp sinh thành
Có nhà nghiên cứu cũng sắp đặt Lục Bát là thể thơ “quốc hồn” của Việt Nam, tương tự như Thơ Đường của người Hán, hay HaiKu của Nhật Bản. Thơ Đường hay HaiKu giới hạn trong một số câu quy định. Riêng lục bái có thể là 2 câu mưỡu, nói lối, câu ca mở lời, đưa đẩy, hoặc kéo dài ra ra một truyện thơ khi chưa có văn xuôi…Nhưng so nó với dáng đi của người phụ nữ, nhất là những cô gái đẹp, liệu có cưỡng ép lắm không ? – Không đâu, người phụ nữ bước đi, đâu phải lúc nào cũng “một, hai…” như người lính. Một bên vai hoặc cánh tay thường, ôm, xách cái gì đó. Chiếc cặp đến trường, chiếc nón; cái giỏ đeo, túi xách hay một bông hoa…Và họ bước đi. Cánh tay còn lại đong đưa thành nhịp. Lục bát: nhịp sinh thành - nhịp song ngầm vạn thuở.
Đã có ghi nhận và tranh luận rằng người Thái, người Chăm từ xưa cũng đã làm “lục bát”. Nhà văn Võ Phiến từ cuối những năm ’60 của thế kỷ 20 trong một tạp luận đã ghi lại những dân ca Chăm mang âm vận này. Thơ là của nhân loại, không nên giành độc quyền. Đáng nói là câu thơ làm ra có hay hay không. Rõ ràng là Lục Bát đã đi những “nhịp hải hà”-mượn cách dùng từ của Nguyễn Xuân Sanh trong một bài thơ từ năm 1942. Lúc dìu dặt, lúc khoan thai, khi dồn dập…Có thể nói nhiều người làm thơ đã mở đầu với những câu lục bát, nhưng không ở mãi với người tình đầu. Có người, qua bao trăn trở đi tìm nhịp tự do (như Thanh Tâm Tuyền), hoặc gò câu trong niêm luật của Đường Thi (như Quách Tấn), nhưng cuối đời lại thôi thúc tìm về với cách gieo “lục bát”.
Nó là hơi thở, là bước chân của các cộng đồng cư dân ven biển ?



NHỮNG NGƯỜI THƯỢNG
Cái rừng, cái lá, cái chim
Cái cây, cái cội, cái tim con người
Cái ta đứng giữa cái trời
Cái da màu nắng ngậm lời cái đau
. (Blao, 1972)



Bài thơ của Hồ Ngạc Ngữ đăng trên Tập san Văn 1972 đã ngầm nói lên điều này. Giữa núi rừng cao nguyên, cách điểm sự vật theo cách dùng mạo từ của người dân miền sông nước cho thấy sự lắng tìm của “Những cây bút trẻ” trước những bế tắt của âm điệu trong thời đại chiến tranh. Trong thơ Lục bát Miền Nam lúc này, có những kiếm tìm, nổi bật cách sắp đặt hình tượng, âm điệu “Nghe trong viễn mộ đôi hàng ngựa ra như Viên Linh “Hóa Thân” 1966). Nhiều tác giả thấy cách sắp đặt cho những chữ tạo nên câu “sáu-tám” vẫn không theo kịp sự cuốn hút của cấu trúc truyền thống nên đã chuyển sang hướng lục bát “huyền ảo” mà trau chuốt, nổi cộm là Phạm Thiên Thư “Lên non tìm động hoa vàng ngủ say.”

Từ giữa những năm ’60, văn hóa Thiền xâm nhập nhiều ngõ ngách của cuộc sống, tâm hồn. Như một ước mơ giải thoát. Các nhà thơ khi đã no đủ với các ngõ ngách “Tự do”, có người lại quay về, đóng khung trong xu hướng cổ điển của những cổ phong, thơ Đường, hoặc tìm đến với trong dòng thơ ba câu của thể HaiKu nhưng mang tính “công án”… Tuệ Sỹ, một nhà sư làm thơ nhận ra rằng:“Một thế kỷ đảo điên, điệu lục bát bỗng nghe trong cung bậc lạc loài. Lời thơ thay đổi; điệu thơ thay đổi; một thế kỷ thi ca thay đổi. Nhưng những ai từng lớn lên trong tiếng Mẹ ru, làm sao quên được những câu thơ lục bát? Tôi biết mình không thể làm được một bài thơ lục bát; mà hồn thơ đã bị đẽo gọt qua những khúc quanh phố thị”. Tâm trạng ấy một ngày kia đã được đánh thức, như một lẽ tự nhiên: …“Phố thị với những khủng hoảng cơ giới. Rồi những đêm, theo dõi bóng trăng mờ, tìm về “cây đa bến cũ, con đò nằm xưa”, âm hưởng lục bát của Nguyễn Du chợt đầy tâm tư vào những bước đường phiêu lưu của lịch sử. Tình cờ, những câu thơ lục bát của Hoài Khanh chợt khuấy động. Nó ngân vang từ phương trời đồng vọng của Nguyễn Du, ngay giữa dòng lịch sử cuồn cuộn sóng, hay bên lề cuộc Lữ tồn sinh.” (Lời bạt tập thơ Lục bát của Hoài Khanh tái bản 2011).
Thi sĩ Hoài Khanh là ai ?
Thi sĩ “ẩn tu” ?
Giữa trung tâm Sài Gòn, ngày xưa các nhà sách đều có khu bày sách văn học, quầy trưng bày các tác phẩm mới nhất. Ở nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi, khách có thể tự do lật vài trang xem thử. Việc kiểm tra được nhân viên bảo vệ thực hiện kín đáo và tế nhị. Nhà sách Xuân Thu trên đường Nguyễn Huệ chuyên nhập khẩu về bán các tác phẩm nước ngoài mới nhất. Tại góc đường Lê Lợi, Công Lý, phía trước Pharmacie Diệu Tâm có một Ki-ốt bày các sách mới nhất do các hang phát hành trực tiếp đưa đến. Tôi và nhiều tác giả mới lúc bấy giờ vẫn hay ra đây vì chị em hai cô Nga, Nguyệt, chủ Ki-ốt sách rất dễ chịu, thường cho khách quen ký nợ khi mua. Dăm ba bữa, tôi lại gặp một người đàn ông trung niên, tướng mặt đạo mạo, hiền lành đến theo dõi các sách mới mà nhà phát hành đã đem đến gửi. Có thể xem nơi này là “thước đo” tình hình tiêu thụ các sách văn học mới. Cô Nga giới thiệu đó là nhà thơ Hoài Khanh, chủ nhà xuất bản Ca Dao. Nhà thơ Hoài Khanh từng là người trông coi nội dung của tập san Giữ Thơm Quê Mẹ do một số nhà sư, trí thức chủ trì. Tạp chí mang tính “văn nghệ Phật giáo này tồn tại khoảng từ 1965-1969 cũng hiền lành như người phụ trách nội dung, nhưng đã giới thiệu được một số tác giả, tác phẩm độc đáo như Chinh Ba với truyện ngắn “Bài thơ trên chiếc xương cụt”. Nhà ở tận thành phố Biên Hòa, thi sĩ Hoài Khanh vẫn giữ thói quen hàng ngày tự đi xe Honda xuống Sài Gòn làm công chuyện rồi về. Trong một nền xuất bản tự do, các nhà văn, nhà thơ có tiếng tự đứng ra điều hành một nhà xuất bản là điều bình thường. Nhà xuất bản ca dao chuyên in các tác phẩm triết học, văn học có tinh thần “Hướng về Đông Phương” nên cũng sống được.
Thi sĩ Hoài Khanh sinh năm 1934 ở thành phố Phan Thiết, nơi mở cõi về Phương Nam cùng lúc với Sài Gòn (1698). Có lẽ nhờ vậy nên tâm hồn ông là nơi giao hòa giữa tính thần bí miền Trung và mênh mông sông nước châu thổ Nam bộ. Tính tình ông trầm lặng, ít nói về mình. Điều này cũng thể hiện khá rõ trong thơ ông. Trước 1975 Hoài Khanh đã xuất bản 4 tập thơ ( Dâng Rừng - 1957, Thân Phận -1962, Lục Bát - 1968, Gió Bấc, Trẻ Nhỏ, Đóa Hồng và Dế - 1970)Gần như những người có xu hướng nội tâm đều thuộc lòng ít nhiều những đoạn thơ của Hoài Khanh:

Rồi em lại ra đi như đã đến
Dòng sông kia vẫn chảy mãi xa mù
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu
(Ngồi lại bên cầu, thi tập Thân Phận, 1962)

Thơ lục bát của ông mới thực sự thấm đượm, nằm sâu trong lòng người với những câu hỏi về than phận và sự mong mong của kiếp người:
Nhập định

Về đây trầm túy mặn nồng
Phiêu du từng chuyến thôi lòng lắng nghe
Về đây bụi khói tàu xe
Chân đi hồn lạc tiếng ve hạ tàn
Về đây nghìn cõi âm vang
Đêm sâu rừng ruộng vui tan cuộc nào
Về đây ngắm cõi gầy hao
Vuốt ve ôi tóc cũng sâu suối ngàn
Về đây tự hỏi dung nhan
Cõi kia cành lạnh đi tàn hoang vu
Ôi nghìn năm trắng sương mù
Một người úp mặt trả thù thiên cơ

(Làm tại Bạc Liêu, 1963- trích từ tập thơ Lục Bát, 1968)
Có khi ông tự hỏi:

Mưa về tự cõi hoang vu
Còn ta từ cõi nào thu mối sầu
( Mưa và Đất- Lục Bát, 1968)

Trong những năm thập niên đầu của Văn học Miền Nam, có thể nói: cùng với Bùi Giáng (với Mưa nguồn, Lá Hoa Cồn), thì Hoài Khanh chính là người giữ cho tâm hồn Lục Bát sống mãi với nhịp thời gian. Bùi Giáng sau biến cố cháy nhà (1965) đâm ra hoảng loạn ngôn ngữ, thơ lục bát phần nhiều chơi chữ, thì Hoài Khanh vẫn mang nặng một mối sầu thiên cổ, ít ai tỏ tường. Ngày nay, bạn bè nói ông sống gần như tách biệt (vẫn trong một khu vườn yên tĩnh ở Biên Hòa).

Nghe chim lạ hót trong vườn

Một hôm chim lạ ghé vườn
Hót lên cung bậc vô thường mong manh
Vườn con hoang vắng đã đành
Tiếng chim dựng lại những thành lũy xiêu
Những cơn biến động tiêu điều
Những tình bạn cũ dập dìu chia xa
Những tình yêu tưởng phôi pha
Chừng như sống lại đậm đà nhờ chim
Bao phen ký ức mong tìm
Giờ đây sống lại trong niềm ngất ngây
Cảm ơn chim , cảm ơn ngày
Giúp ta sống lại phút giây nhiệm mầu . . .

Tôi viết những dòng này để cảm ơn ông, nhà thơ “ẩn tu” nuôi dưỡng cho hồn Lục Bát. Rồi một ngày mai, tiếng chim lạ sẽ bay về đánh thức mỗi người tìm về tâm cảnh của mình

(Còn tiếp)

Thơ tình 10,Thổn thức



Thổn thức


Anh vẫn mãi thênh thang như biển cả ,
ru tim em, con sóng hát vỗ bờ.
Để nổi nhớ hiện hình trôi ra bể ,
em ngàn năm ôm mãi mối tình xa.

Nếu trời nắng ,
em ngóng lời gió hát.
Nhẹ tênh tênh con sóng đuổi xa bờ ,
để triền sóng vỗ lăn tăn bờ cát.
Thành lời yêu ru em nhẹ giấc trưa.

Nếu trời mưa ,
có cản lối đi về.
Em cũng sẽ như cơn mưa lặng lẽ ,
thu bóng mình - đếm sợi nhớ đong đưa.

Nếu bóng tối có làm em run rẩy...
Có thấm buồn có trống vắng xót xa.
Em vẫn nhớ những cơn mưa ngày ấy
Từng sợi rơi , giăng nổi nhớ hiền hòa.

Nếu cuộc sống vẫn vô tình như thế ?
Em thà là cô bé thích mộng mơ...
Xoè bàn tay đếm nổi sầu qua kẽ
nghe tim mình thổn thức dấu yêu xưa.

---mưa phố núi ---


Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

Thơ tình 10 - NGƯỜI ĐÀN ÔNG DUYÊN DÁNG




NGƯỜI ĐÀN ÔNG DUYÊN DÁNG
Anh ! hãy nói em nghe về mọi thứ ,
Về cuộc đời , nhân bản và niềm tin .
Đừng để em thấy lòng mình bối rối ...
Thấp thoáng bóng anh xen giữa buổi chiều .

Hãy nói em nghe , vì sao cuộc đời anh như thế ?
Giữa muôn ngàn dâu bể ,
Sao anh lại biết chỗ dừng chân ,
Sao lại để trái tim em thổn thức ?

Anh coi đời đơn giản,
Anh tự thu bóng mình .
Anh khuất lấp giữa đam mê chìm nổi
Anh cả đời cứ phải rong đuổi sao ?

Hạnh phúc có phải là nổi đau ?
Ta im lặng để nhìn về phía trước .
Sao thời gian không thể nào đi ngược ?
Sao anh không phải của riêng em ?

Hãy giữ gìn đôi bàn tay anh uyển chuyển
Giữ nhịp đập trái tim anh rộn rã .
Giữ lý trí vững vàng trước cuộc đời sóng gió .
Hãy là anh ! chỉ là anh thôi nhé .
Hiện hữu giữa đời - ẩn dật giấc mơ em .

---mưa phố núi---



Thơ tình 10- Mua Ngau

Dang Son fr. - DEM