Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012

GIỚI THIỆU CA KHÚC MỚI

Giới thiệu - CA KHÚC MỚI



Please ! click to the picture to hear the Music


NÂNG NIU

 Thơ Mưa phố núi
Nhạc và trình bày : Lang Thang

Xin hãy nâng niu kỷ niệm
Bóng dáng hạnh phúc đã qua
Hồi tưởng có khi lệ nhòa
Nổi trôi theo miền ký ức

Bước Chân nhẹ vui khe khẽ
Khi còn tình ái trong tim
Bước chân nặng nề u ám
Khi đam mê đã rời xa

Chiếc lá nào của hôm qua
Bay bay trong chiều ngược gió
Mùa thu nào của riêng ta
Thay màu hàng phong tàn úa

Gởi lại nụ hôn nho nhỏ
Nhạt nhòa theo bóng thời gian
Đốm nắng lung linh trên cỏ
Nâng niu hương sắc muộn màng

Giọt sương chia đôi nổi nhớ ,

giọt tình lóng lánh trên mi .
Lòng em bơ vơ bối rối ,

u tình có phải vô tri ?

Lời ai thở than trong gió ,

tự tình trong nổi chia ly .
Tình ơi ! Như xoay như lắc .

Đam mê buông thả xuân thì .



CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2012 ( KỲ 114 )

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

1.141 - Dương Quang Thiện
NHÀ TÀI TRỢ HỌC BỔNG “CHUYÊN NGHIỆP”
Kỹ sư về hưu sinh 1933 tại An Giang. Sống ở TPHCM (2012).
Du học Pháp tốt nghiệp kỹ sư tin học, là người VN đầu tiên được Hãng IBM ở Mỹ tuyển làm chuyên viên. Lấy vợ giáo viên Thụy Sĩ.
Bỗng nhiên năm 1965 quyết định từ bỏ công việc lương cao và sự nghiệp quốc tế để cùng vợ quay về Sài Gòn làm việc khi đất nước đang trong thời chiến tranh ngày càng dữ dội chỉ vì ý nguyện đơn giản: “Đất nước còn nghèo sẽ cần tôi hơn các nước đã phát triển”. Là một trong những người đầu tiên du nhập khoa học công nghệ thông tin vào miền Nam.

Sau 1975 về hưu quay qua viết sách truyền bá tin học với hơn 50 đầu sách đã xuất bản.

Ngoài ra từ năm 1989 cùng vợ trở thành đôi vợ chồng trong nước bảo trợ rất nhiều học bổng cho học sinh sinh viên nghèo toàn quốc thông qua báo Tuổi Trẻ, báo Sài Gòn Giải Phóng, ĐH An Giang ở quê nhà… Còn xây trường ở Sơn La, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Cà Mau lẫn nhà cho giáo viên đời sống khó khăn tại Quảng Trị, Bình Định…
Tất cả theo chủ trương “lấy giáo dục nuôi giáo dục” với mục tiêu rõ ràng “Chúng tôi không làm từ thiện, chúng tôi đầu tư cho các em là đầu tư cho tương lai.”
Tất cả học bổng lấy từ tiền bán sách và trích lương hưu bà vợ Thụy Sĩ.

Bà hoàn toàn ủng hộ chồng, dần trở thành như một người phụ nũ VN thuần túy đi chợ nấu ăn toàn món VN. Bà mới qua đời tháng 5.2012 thọ 85 tuổi.

1.142 - David Pham
TIỂU THẦN BÀI MỸ “NGỌA HỔ TÀNG LONG”
Tay cờ bạc chuyên nghiệp Việt kiều Mỹ sinh 1967 tại miền Nam. Sống ở Mỹ (2012).
Năm 1984 lúc 17 tuổi vượt biên theo đường biển trên tàu chứa 145 người nhưng cuối cùng chỉ còn 45 người sống sót đến được Mỹ.
Ban đầu được người cậu Nguyễn Văn Mến đưa vào làm tiệm giặt ủi của ông, sau đó được ông vốn là một tay chơi cờ bạc chuyên nghiệp nổi tiếng ở Las Vegas truyền nghề đánh bài poker (gần giống bài xì phé ở VN).
Từ đó dần vươn lên hàng “sao” thần bài được bầu tay bài “chiến” nhất năm 2000 và 2007, năm 2008 xếp hạng 7 thế giới lẫn Châu Âu. Được phong biệt danh “Rồng”.
Đến năm 2009 đã gom tiền giải thắng độ lên tới hơn 8,1 triệu USD.

1.143 - Đặng Lương Mô
HAI LẦN HỒI HƯƠNG
Giáo sư tiến sĩ sinh 1936 tại Hải Phòng. Sống ở TPHCM (2012).
Di cư vào Nam 1954.
Năm 1957 được Nhật Bản cấp học bổng du học. Năm 1968 tốt nghiệp kỹ sư, thạc sĩ rồi tiến sĩ chuyên ngành điện tử vi mô ra làm việc cho Hãng Toshiba. Nhập quốc tịch Nhật (có tên Nhật).
Năm 1971 trở về Miền Nam dạy ĐH Khoa học.
Sau ngày Giải phóng do có quốc tịch Nhật nên được quay về Nhật dạy đại học ở Thủ đô Tokyo.
Trong thời gian này tập trung vào công tác nghiên cứu thực hiện hơn 300 công trình giá trị và nhận 13 bằng phát minh quốc tế.
Ngoài ra vẫn mang nỗi niềm nhớ quê nên từ năm 1989 vận động kiều bào ở Nhật đóng góp mua thiết bị khoa học gửi về tặng các trường đại học trong nước, giúp đỡ giảng viên trong nước ra nước ngoài tập huấn, đào tạo lại. Và còn dịch truyện thơ “Bích câu kỳ ngộ” ra tiếng Nhật.
Năm 1994 trở lại VN dự hội nghị bàn về cải cách giáo dục VN.
Năm 2002 quyết định hồi hương về định cư hẳn tại TPHCM, làm tư vấn và tham gia giảng dạy cho ĐH Bách khoa TPHCM.

Từ năm 2005 vận động Toshiba cấp học bổng cho sinh viên VN và bản thân cũng trích luơng hưu làm học bổng cho sinh viên nghèo gặp khó khăn.

1.144 - Francoise Demulder
TÁC GIẢ BỨC ẢNH NGHI ÁN LỊCH SỬ XE TĂNG HÚC ĐỔ CỔNG DINH ĐỘC LẬP
Phóng viên ảnh chiến trường người Pháp sinh 1947 tại Pháp – Mất 2008 ở Pháp (61 tuổi).
Đến Sài Gòn từ năm 1972 bám sát chiến trường Miền Nam chụp ảnh thời sự.
Ngày 30.4.1975 là nữ phóng viên ảnh duy nhất cả nước ngoài lẫn VN có mặt trước dinh Độc Lập chụp được bức ảnh lịch sử xe tăng 390 đầu tiên tiếp cận dinh Độc Lập húc đổ cổng chính tiến vào khuôn viên bên trong.
Tuy nhiên bức ảnh này chỉ được đăng một lần duy nhất trên báo Pháp, sau đó nằmtrong bộ sưu tập lưu trữ của tác giả. Trong khi đó bức ảnh tương tự được phổ biến trên báo đài trong nước là bức ảnh khác do một phóng viên bộ đội chụp xe tăng 843 đến sau tiến vào từ cổng phụ (trong ảnh mũi tên chỉ là tác giả đang chụp xe tăng 390, phía sau mới là xe tăng 843). Chính từ chiếc xe tăng thứ hai này mà chính ủy Bùi Quang Thận đã nhảy xuống chạy vào dinh Độc Lập bắt giữ toàn bộ nội các của Tổng thống Dương Văn Minh vừa tuyên bố đầu hàng.
Từ đó lịch sử ghi nhận chiến tích “đánh” dinh Độc Lập thuộc về xe tăng 843 của Bùi Quang Thận. Tổ bốn chiến sĩ xe tăng 390 dù biết chuyện cũng không có điều kiện đính chính, hơn nữa sau đó họ ra quân trở về đời sống thường dân nên cũng không quan tâm gì lắm!
Bản thân tác giả người Pháp cũng không hay biết sự nhầm lẫn này bởi sau đó còn bận tiếp tục làm nhiệm vụ phóng viên ảnh chiến trường tại Angola, Liban, Campuchia, El Salvador, Iran, Iraq, Palestine, Kuwait… Năm 1976 trở thành phóng viên ảnh nữ đầu tiên được tặng giải Anh thời sự xuất sắc nhất thế giới với tấm ảnh chụp cảnh nội chiến ở Liban.
Mãi đến năm 1994 một nhà ngoại giao VN đến Pháp tìm thăm bà mới phát hiện ra sự thật đòi hỏi phải xem lại nghi vấn này. Nhưng trong nước vẫn chưa giải quyết được vấn đề, gặp trở ngại một phần do “anh hùng” BQ Thận kể trên nay đã là… Tư lệnh binh chủng Tăng – Thiết giáp, còn nhà nhiếp ảnh bộ đội chụp bức ảnh thứ hai kia bây giờ lại là… Tổng Giám đốc Thông tấn xã VN!

Cho đến năm sau đích thân nhà báo nữ người Pháp qua VN dự lễ kỷ niệm 20 năm giải phóng Miền Nam đã yêu cầu làm rõ sự thật và đích thân bà còn về tận quê đi tìm gặp đủ bốn cựu chiến binh xe tăng 390 để xác minh lại. Từ đó Bộ Quốc phòng phải tổ chức cả một hội nghị để đi đến quyết định thống nhất trả lại vinh quang cho bức ảnh lịch sử xe tăng 390 của bà cũng là sửa lại một sự kiện lịch sử quan trọng.
Năm 2008 bà qua đười do bị sốc tim trong lúc đang điều trị bệnh ung thư. Được Chính phủ Pháp tôn vinh là “Nữ phóng viên chiến trường dũng cảm nhất nước Pháp.”

1.145 - Men Nguyen
“ĐẠI SƯ” THẦN BÀI MỸ
Tay cờ bạc chuyên nghiệp Việt kiều Mỹ tên cũ Nguyễn Văn Mến sinh 1954 tại Phan Thiết. Sống ở Mỹ (2012).
Năm 13 tuổi đã bỏ học đi làm lơ xe bus kiếm tiền giúp gia đình.
Năm 1978 vượt biên đường biển cùng 87 người đến Mỹ.
Năm 1984 lần đầu tiên đến Las Vegas làm quen với nghề đánh bài poker ăn tiền chuyên nghiệp. Ban đầu liên tục thua te tua tới mức bị gán cho biệt danh “Máy xay tiền”. Nhưng dần dà tay nghề ngày càng cứng, từ 1987 bắt đầu thắng nhiều giải có tiền để mở tiệm giặt ủi và cửa hàng bán đồ nội thất.
Thành tích thần bài trên đưa đến biệt danh “Đại sư” cờ bạc (The Master) năm 1991, được tuần báo Los Angeles đưa ảnh lên trang bìa.
Năm 1990 bán hết cả 2 tiệm để tập trung thì giờ, công sức vào… sòng bài!
Từ năm 2000-2004 đã đoạt hơn 75 giải. Được xếp Số 1 Thần bài Mỹ năm 1997, 2001,2004, 2005, dự hơn 120 vòng chung kết. Gần nhất năm 2010 thắng tổng cộng tiền 394.807 USD. Năm 2011 có tài sản trên 10,3 triệu USD từ tiền ăn bạc, xếp thứ nhì trong lịch sử poker Mỹ chỉ chịu đứng sau thần bài Mỹ chính hiệu P. Hellmut.
Từng bị tố là chơi gian lận song không có chứng cứ cụ thể.
Ngoài ra còn làm thầy dạy một số đệ tử ruột thành “tiểu” Thần bài kế tục sự nghiệp như 2 người cháu David Pham và Minh Nguyên.
Đã về nước làm công tác từ thiện tại quê nhà Phan Thiết, xây một nhà trẻ.

Và trong một lần như vậy vào năm 1990 gặp cưới một người đẹp cùng quê 19 tuổi đưa qua Mỹ. Cả hai hợp thành một “cặp đôi hoàn hảo” qua các chuyến đi đánh bài từ Las Vegas đến Monaco, Macau, Hong Kong.
Nhưng đến năm 2010 lại… chia tay nhau dù đã có 3 con gái, vợ còn kiện cáo đòi nhà trị giá 10 tỉ đồng ở Phan Thiết!

1.146 - Ngô Gia Hy
BẬC THẦY Y KHOA SỐNG THỌ NHẤT
Giáo sư bác sĩ sinh năm 1914 tại Bắc Ninh – Mất 2004 (91 tuổi).
Từng là học trò của cố bác sĩ Tôn Thất Tùng ở Miền Bắc trước 1954, chuyên về niệu khoa.
Sau khi di cư vào Nam là một trong 2 người biến một trại tạm cư dân Bắc di cư thành bệnh viện Bình Dân ngày nay. Nhiều năm làm hiệu trưởng ĐH Y Sài Gòn đến ngày Miền Nam sụp đổ.
Sau 30.4.175 vẫn ở lại tiếp tục làm công việc chuyên môn, dạy ĐH Y – Dược TPHCM, làm tổng biên tập tạp chí Thời sự Y - Dược học. Về hưu làm hiệu trưởng ĐH Dân lập Hùng Vương 1995-2000. Sống an nhiên tự tại luôn yêu đời lạc quan. Mê sưu tầm tem vào hàng cao thủ niên trưởng với gia tài hơn 180 tập tem. Yêu thích văn nghệ đàn ca xướng hát cùng bạn bè, học trò, cả làm thơ kiểu tự trào nữa như bài “Đố ai” sau đây:
“Là ông thầy thuốc, đố ai
Khoe khoang vỗ ngực không sai bao giờ?
Trừ phi dối bạn dối người
Dối luôn mình nữa, thôi rồi đức y!”

Sau khi mất, gia đình đã góp thư viện sách chuyên khoa của ông cùng học trò hình thành Thư viện Ngô Gia Hy gồm khoảng 4.000 sách y học đặt tại một bệnh viện ở TPHCM.

1.147 - Nguyễn Phú Đạt
MÓN NỢ KỶ VẬT VỚI KẺ THÙ
Đại tá bộ đội về hưu sinh 1929 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2012).
Sau thời gian chiến đấu ở miền Nam, do có trình độ ngoại ngữ nên được điều về Hà Nội làm Cục Địch vận tham gia chương trình phát thanh tiếng Anh trên Đài Tiếng nói VN hướng về đối tuợng lính Mỹ trên chiến trường Miền Nam.
Năm 1969 tiếp nhận một hồ sơ dùng làm tư liệu phát thanh gồm 2 tấm ảnh một lính Mỹ (thượng sĩ Steve Flaherty) và 3 lá thư của anh ta trong đó có một lá thư gửi mẹ ghi địa chỉ rõ ràng thuộc TP Columbia, bang South Carolina. Đây là tài liệu thu được ở chiến trường từ người lính này có lẽ đã tử trận.
Toàn bộ tài liệu sau khi được sử dụng cho chương trình phát thanh địch vận Mỹ đã được ông giữ lại như một kỷ niệm vì bản thân mình trước kia cũng có một bà mẹ đau đáu chờ tin con từ chiến trường: “Đọc lá thư gửi mẹ tôi thực sự xúc động vì lòng người mẹ ở bất kỳ nơi nào cũng giống nhau thôi.”
Sau ngày hòa bình khi VN – Mỹ tái lập bang giao, thông qua các cơ quan ngoại giao đã tìm cách liên hệ với phía Mỹ để trao lại các di vật trên cho bà mẹ Mỹ. Nhưng đáng buồn đến nay vẫn chưa tìm ra tông tích người nhận, gia đình hay thân nhân người lính Mỹ bất hạnh kia.

Từ đó dù nay đã quá bát tuần, lòng vẫn không nguôi mong mỏi trả được món nợ “tình nghĩa chiến tranh” này mới có thể yên tâm ra đi. Thỉnh thoảng đêm đêm mất ngủ vẫn ngồi dậy đi lục tìm món kỷ vật kia cất kỹ trong hộp có khóa đàng hoàng để đọc đi đọc lại không biết lần thứ mấy lá thư gửi mẹ của một người không quen từng là kẻ đối địch bên kia chiến tuyến.

1.148 - Nguyễn Xuân Nam
MỘT TRONG NHỮNG BÁC SĨ GIỎI NHẤT NƯỚC MỸ
Bác sĩ Việt kiều Mỹ sinh 1959 tại Nha Trang. Sống ở Mỹ (2012)
Xuất thân gia đình ngư dân nghèo, mẹ mất năm mới 4 tuổi để lại 8 con nheo nhóc (mình là con thứ hai). Nên học lớp 6 phải bỏ học đi phụ giúp cha ra biển đánh cá.
Có thời gian chiến tranh lan rộng cha bị trúng đạn nằm nhà thương khiến một mình phải lo cáng đáng mọi việc giúp mẹ kế nuôi cả nhà. Nhưng cũng không tránh khỏi tai ương mẹ kế và 2 em chết sớm do bệnh tật không tiền chạy chữa thuốc thang.
Năm 1978 nhờ làm nghề đi biển nên có điều kiện một mình vượt biên đến Philippines rồi được qua Mỹ.
Trên đất khách quê người lao đầu vào học vì biết chỉ có con đường này mới giúp mình đổi đời được. Vừa làm vừa học lần lượt tốt nghiệp trung học, cử nhân rồi xin vào ĐH Y quyết tâm thành bác sĩ do mối ám ảnh người thân bệnh chết oan vì không được chữa trị đúng cách.
Đến 1991 mới hoàn thành đủ văn bằng làm bác sĩ chuyên khoa nhi, làm trưởng Khoa Nhi ĐH Irvine ở California. Dần trở nên nổi tiếng được ĐH Harvard năm 2009 bầu chọn là một trong những bác sĩ giỏi nhất nước.
Lấy vợ cũng là bác sĩ đồng hương chuyên khoa gây mê,
Đã mấy lần được VN mời về dự hội nghị chuyên môn, thuyết giảng “truyền nghề” cho sinh viên.

1.149 - Phạm Biểu Tâm
BẬC THẦY LỚN CỦA BÁC SĨ MIỀN NAM
Giáo sư bác sĩ sinh 1913 tại Huế – Mất 1999 ở Mỹ (86 tuổi).
Thuộc dòng dõi quan lại triều Nguyễn. Ra Hà Nội học tốt nghiệp trường Y rồi đi du học Pháp 1948, ra trường về dạy ĐH Y Hà Nội. Là một trong những tráng sinh đầu tiên của Hướng đạo VN từ năm 1930.
Năm 1954 di cư vào Nam làm giám đốc bệnh viện Bình Dân rồi giữ chức hiệu trưởng đầu tiên ĐH Y Sài Gòn trong 12 năm. Từng bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giữ năm 1963 do có thái độ chống đối chế độ độc tài gia đình trị họ Ngô.
Sau ngày thống nhất đất nước vẫn ở lại làm việc chuyên môn như cũ. Nhận chức Phó Chủ tịch Hội Trí thức yêu nước TPHCM, tổ chức do chính quyền cộng sản lập ra nhằm thu hút số “trí thức tại chỗ” bắt đầu làm quen với Cách mạng.
Năm 1984 về hưu với sự nghiệp đào tạo hàng nghìn học trò bác sĩ sau này nhiều người thành danh như Trần Ngọc Ninh, Đào Đức Hoành. Bây giờ mới có thời gian rảnh để làm… cổ động viên bóng đá nhiệt tình!
Qua 1989 được xuất cảnh qua Mỹ chữa bệnh và đoàn tụ với con cái.
Năm 2000 học trò trong Hội Y sĩ VN tại Mỹ đặt ra Giải thưởng Y khoa Phạm Biểu Tâm.

1.150 - Phạm Thị Tâm
NỤ CƯỜI NGƯỜI TRONG ẢNH
Nông dân sinh 1948 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2012).
Năm 1967 em trai đi bộ đội lên đường vào chiến trường Miền Nam đã xin chị một tấm ảnh mang theo “cho đỡ cô đơn”. Tấm ảnh chụp chân dung cô gái quê 18 tuổi mang áo cánh đen miệng mỉm nụ cười e ấp với dòng chủ viết vội phía sau “Chị Tâm thương tặng em”.
Cậu em cẩn thận bọc tấm ảnh trong bao ny lông cất kín trong túi áo trên ngực rồi cất bước ra đi.
Ra đi… mãi mãi không về bởi chỉ 2 năm sau thì hung tin báo tin về em đã hy sinh trên trận địa không tìm được xác.
Người cha già không chịu được nỗi đau kéo dài cũng đi theo con trai với lời dặn con gái trước khi nhắm mắt là sau này ráng tìm hài cốt em đưa về “đừng để em ở nơi xa xôi mà lạnh lẽo”.
Thế là từ đó ở vậy không lấy chồng, đợi đến sau hòa bình tất tả ngược đường vào Nam đi tìm tin tức em tử trận ở đâu, thi thể nằm nơi đâu. Có khi sang cả Lào nơi đơn vị em từng chiến đấu.
Nhưng tất cả đều không kết quả, không dấu vết nào để lại sau quảng thời gian dài quá nhiều vật đổi sao dời. Đành thất thểu quay về quê ngày tiếp tục chăn bò, làm ruộng mà đêm thì mất ngủ nằm vắt tay lên trán thở vắn than dài nhớ em nhớ cha.
Tình cờ một ngày nọ đang chăn bò bên đường gặp một nữ trung tá bộ đội ở Miền Nam ra hỏi thăm đường bèn theo thói quen mỉm miệng cười chỉ đường. Không ngờ người nữ trung tá ấy nhìn sững vào nụ cười nói sao thấy… quen quá!
Đúng vậy, đó là nụ cười mà bà trung tá từng nhiều lần nhìn thấy trên một tấm ảnh bà đang… giữ trong túi xách, chính là nụ cười trên tấm ảnh mà ngày nào người chị gái đã tặng cho em trai vào chiến trường Miền Nam!

Thì ra bà trung tá (ở Viện Bảo tàng Quân khu 4) đang làm nhiệm vụ đi tìm hài cốt liệt sĩ trong một chuyến qua Lào đã tìm ra mộ người em bộ đội kia song trong giấy tờ kèm theo chỉ còn một tấm ảnh của người chị bọc trong bao ni lông còn nguyên vẹn. Từ bức ảnh đó và dòng chữ người em ghi thêm phía sau “T. thắng, GL, Hà Nội” mới đi dò tìm ra quê cũ là xã Toàn Thắng – Gia Lâm – Hà Nội.

Và vừa trên đường tới đây thì bắt gặp lại… nụ cười trong ảnh! Giống như có hồn người em linh thiêng đưa đường dẫn lối vậy.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2012

EM NHỎ , LÀM CHI CHIM BIỂN BẮC - TÔ THUỲ YÊN

Em nhỏ, làm chi chim biển Bắc
Để anh lầm mãi bãi Đông mù…
Cửa thần phù dựng trường sơn sóng
Mỗi ngọn xô chìm một ước mơ.

Ôi những con đường đến tự đâu,
Một lần gặp gỡ ngã tư nào,
Rồi trong vô hạn chia lìa miết,
Có cuốn theo mình bụi của nhau

Biệt xứ ra đi, trời bắt tội,
Dài tơ tưởng rụng tóc mai xanh,
Trôi mòn vóc đá, tào khê thức
Nhướng mỏi ngàn sao đáy lặng thinh.
Còn anh hệ lụy chằng trăm rễ,
Cam phận cây rừng tối đẫm rêu,
Nấm tủa tầng tầng thân mục tới
Như mùa hoa trối tuổi già xiêu.

Em đẩy làm chi cửa não nề,
Bản lề khô kẽo kẹt hôn mê.
Nhện giăng tơ mốc nhà hoang lạnh.
Tiếng gọi rền vang gỗ đá ê.

Dựng dậy hồn oan dĩ vãng nào,
Con chim thần thoại mắt khoen sâu,
Giật mình như đã ngàn năm ngủ,
Giũ bụi lông, cất khản tiếng gào.
Có nhớ không em rừng bóng lạnh,
Gốc cây ngời giọt nắng sao thưa.
Gió ru mê mệt trưa tàn tạ.
Hạnh phúc đùa xa tiếng thực hư.

Khép mắt cho hồn bay diệu vợi
Mà yêu đến khóc, đến u mê.
Để khi mở mắt, ta nhìn thấy
Cả cuộc đời ta có đáng chi.

Cây rách sâu thân chất giọt lòng.
Nghiệp hờn trả nghĩa đất bao dung.
Mùa hè cháy hực cơn cuồng nộ.
Ồ máu thơm còn ứa chẳng ngưng.
Đồi lộng đưa nhau xuống cuối ngày,
Thấy âu sầu hiện mỗi thân cây.
Cỏ cao quấn quíu chân chùn bước,
Ghim xót xa đầy vạt áo bay.

Làm sao đi hết những con đường?
Gió với cây cùng khóc hợp tan.
Mỗi đóa hoa trên đồng chói lọi
Cũng xui phù thế ngậm ngùi thân.

Cầu hân hoan chết như mưa lũ,
Nước kéo nhau đi trẩy khắp miền,
Còn vọng hằng hà sa số kiếp
Lai sinh trời đất cũ chưa quên.

Vũ khúc - photo dance


Vũ khúc - Cô tấm ngày nay










Vũ khúc - Con Rồng cháu Tiên



Trăm trứng nở trăm con



Nuôi tằm dệt lụa



Yểu điệu thục nữ - quân tử háo cầu



theo mẹ xuống biển



theo cha lên rừng

Vũ khúc Xuân Yêu Thương



những cánh bướm


chao liệng giữa mùa xuân


sắc màu rộn rã





chở đầy yêu thương
Photo by Muaphonui

VAN NGHE - 2012 - photo by mpn

Ngày Hiếu 28-5 -2012 -Chùa Huệ Quang Do các em thiếu nhi sinh hoạt trong gia đình Phật Tử biễu diễn
( trong số này có 3 cô con gái , 4 cô cháu gái và một cháu trai của MPN )
VAN NGHE - 2012


Múa Fire rock - ấu nam






Hip hop





đơn ca nữ - Papa


Hoạt cảnh lời mẹ ru




Tứ ca lời mẹ ru

***


photo by Muaphonui



Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2012

VÀNG PHƠI ÁO LỤA - NGUYỄN MIÊN THẢO

Anh về Thiên Trúc nghe kinh
Tình yêu xanh đến vô cùng em ơi
Vô Thường mấy độ rong chơi
Chiều thu,áo lụa vàng phơi điếng hồn
Em đi lặng ngắt hoàng hôn
Và anh theo dấu trăng non cuối ngày
Vời trông theo dáng hao gầy
Thương em chỉ biết giải bày cùng trăng

NGUYỄN MIÊN THẢO

Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2012

THÊM NỖI HAO GẦY - CAO QUẢNG VĂN

Sông dài mây trắng ngẩn ngơ
Lòng hiu cơn gió
mơ hồ phượng bay
Tôi về với Huế
chiều nay
Ngược đường
thêm nỗi hao gầy
Huế ơi!


CQV

NHỚ SAN - LÊ NGỌC THUẬN

Có lẽ bên kia mầy vẫn say
Vẫn ngồi ngủ tỉnh giữa ban ngày
Vẫn nâng ly rượu không hề tiếc
Vẫn cạn cả đời không mảy may

Mầy cứ coi trời như là đất
Thích thì bước đi không quay về
Mầy cứ coi tình như là rượu
Vơi chén này rót đầy chén kia

Mầy đã say vô cùng lặng lẽ
Rượu hiểu mầy như gió với mây
Heo vàng hiển hiện năm cùng tuổi
Lục thập khói hương mờ bay bay

Ai nhớ ai quên, mầy đâu cần
Bạn bè mấy đứa buồn lâm râm
Lẻ loi phố chợ mình tao uống
Lãng đãng hồ đồ rượu mù câm

Tháng sáu bây chừ nắng rát da
Sông Hương nhan sắc vẫn mặn mà
Có con chim hót không thành tiếng
Nhỏ giọt mưa xuống cuộc tình xa.

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2012 ( KỲ 113 )

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Tưởng niệm
Trần Đình Trường
ĐẠI GIA KHÁCH SẠN MỸ

Doanh nhân Việt kiều Mỹ sinh 1932 tại Hà Tĩnh – Mất tháng 5. 2012 ở Mỹ (81 tuổi).
Trước 75 là chủ đội tàu biển lớn nhất miền Nam, làm giàu nhờ chuyên chở vũ khí, trang bị cho quân đội Mỹ vào miền Nam đánh Cộng sản.

Đến biến cố 30.4.75 đã cùng vợ con (1 con trai, 2 con gái) di tản qua Mỹ. Trong cuộc biến động lịch sử này tự nhận đã dùng đội tàu biển 24 chiếc của mình để chở người di tản – cả dân Việt lẫn Mỹ – qua Mỹ, đến hơn 8.500 người. Tuy nhiên sau đó có người phản bác nói thực sự không phải như vậy mà ông chỉ nhân đó đem theo cả một “núi” vàng qua Mỹ!

Trên đất Mỹ chuyển qua kinh doanh khách sạn tại New York và nhanh chóng trở thành một trùm khách sạn tên tuổi, chuyên mua những khách sạn cũ xuống cấp giá rẻ để tân trang lại phát triển cả một chuỗi khách sạn. Còn xây một trung tâm thương mại VN tại Philadelphia. Trở thành một trong số ít Việt kiều giàu nhất Mỹ với tài sản ước tính khoảng hơn 1 tỉ USD.

Nhưng trong việc làm ăn này cũng từng mắc tai tiếng là sử dụng khách sạn để chứa chấp tệ nạn xã hội như bọn buôn ma túy, gái mại dâm. Từ đó thỉnh thoảng lại bị cảnh sát nhòm ngó, kiểm tra, thậm chí còn đưa ra tòa nữa.

Dù vậy ra tòa lần nào cũng thoát nạn, có lần bị tuyên án 20 ngày tù song kháng án được chấp nhận vô tội. Lý lẽ biện minh là do mình có cho một số dân nghèo không nơi cư trú ở khách sạn không lấy tiền nên bị hiểu lầm, rằng mình bị cảnh sát Mỹ kỳ thị chủng tộc…

Năm 2001 sau vụ khủng bố 11.9 đã tặng Hội Chữ thập đỏ Mỹ 2 triệu USD đồng thời còn cho các tình nguyện viên làm công tác dọn dẹp đống đổ nát 2 tòa tháp bị máy bay khủng bố đâm sập ở khách sạn miễn phí. Những khi người Việt tụ tập về New York họp hành, gặp mặt hội hè đều sẵn lòng tiếp đón, hỗ trợ. Năm 2004 được nhận giải thưởng vinh danh trong cộng đồng Việt kiều Mỹ.

Bí quyết thành công trong sự nghiệp kinh doanh từ VN đến Mỹ: “Tất cả chỉ tập trung vào 2 chữ cố gắng. Cố gắng làm việc thì tất yếu dẫn tới thành công. Tầng lớp nào, nghề nghệp nào cũng vậy thôi. Vừa cố gắng làm việc vừa học hỏi tiến bộ…” Ap dụng thực tế với nhà tỉ phú Việt kiều này ấy còn là sự khôn ngoan, nhạy bén biết “nhập gia tùy tục” đặc biệt là phải nắm luật (Mỹ) để có thể “lách” luật.

Cuối đời bệnh tuổi già bị đột quỵ nằm liệt mấy năm trước khi mất.

1.131 - Đặng Thị Cừ
80 TUỔI BÁN HÀNG RONG NUÔI CON TÂM THẦN
Lao động nghèo sinh 1931 tại Hà Nam. Sống ở Hà Nam (2012).
Lấy chồng cùng quê sinh được 3 con (2 gái 1 trai) thì chồng nhập ngũ vào Nam chiến đấu.
Năm 1968 nhận được tin báo tử chồng đã hy sinh không tìm thấy mộ. Còn lại một mình vất vả chạy vạy tứ phương mưu sinh nuôi con.
Con cái lớn lên, 2 con gái đầu đi lấy chồng xa hoàn cảnh cũng khó khăn chẳng giúp đỡ gì mẹ già. Con trai út năm 1983 vào bộ đội nhờ thời bình nên năm 1986 được cho xuất ngũ.

Không ngờ về nhà, anh con trai bắt đầu có dấu hiệu tâm thần phá nhà phá cửa, bỏ đi lang thang điên điên khùng khùng. Mẹ già chạy đôn chạy đáo nhờ người chữa bệnh vẫn không khỏi.

May sao nhờ thời gian qua đi, đến năm 2000 bệnh con trai đỡ dần, có khi cũng thấy tỉnh trí lại. Từ đó lấy được vợ cùng xã cũng là người thuộc dạng trí óc chậm phát triển, sinh được 1 trai 1 gái.

Nhưng sau khi có đứa con thứ hai năm 2011, bệnh cũ tái phát đánh đập vợ con, tới mức có lần suýt đốt nhà! Vợ sợ quá ôm con về bên ngoại.

Thế là chỉ còn mẹ già lại nai lưng ra nuôi đứa con trai 46 tuổi tâm thần bất định nhưng bà đã hơn 80 tuổi biết làm gì kiếm tiền trong khi trợ cấp Nhà nước chẳng đủ chút nào. Đành bán nhà rồi dắt con dở người lang thang lên Hà Nội bán rong hàng lặt vặt ngoài chợ nhỏ kiếm sống qua ngày, tối về 2 mẹ con ngủ đầu đường xó chợ.
Vậy mà mẹ già cứ canh cánh bên lòng nỗi lo mình mất đi thì thằng con dại khờ biết sống cậy nhờ ai đây?!

1.132 - Thiênna Hồ
KỶ LỤC GIA THẾ GIỚI “THỤT DẦU”
Tiến sĩ, doanh nhân Việt kiều Mỹ sinh 1968 tại VN. Sống ở Mỹ (2012).
Năm 1978 lúc 10 tuổi cùng gia đình vượt biên đường biển, bị hải tặc tấn công 5 lần may mà sống sót cập bến Indonesia rồi được Mỹ tiếp nhận.

Lớn lên tốt nghiệp đại học nhiều ngành kinh tế, thương mại, sinh hóa lẫn dinh dưỡng ra lập công ty thành đạt từ năm 27 tuổi.

Vốn đa năng nên cùng lúc còn siêng năng tập luyện thể dục để giữ gìn sức khỏe qua đó mê say tập bài phạt “thụt dầu” (Sumo squats - thường áp dụng trong quân trường rèn luyện tân binh) với động tác đứng lên cúi xuống nhiều lần liên tục trong tư thế chuẩn là phải đứng tấn 2 chân mở rộng rồi co đầu gối cúi cong lưng xuống rồi đứng lên vươn thẳng người. Ban đầu do người bố vốn là một võ sĩ đai đen hướng dẫn.

Chuyên cần rèn luyện như vậy 3 lần mỗi tuần (500-1.000 lần trong 30-45 phút) từ năm trên 20 tuổi, nhờ đó đã đạt tới thành tích thực hiện được 5.384 lần Sumo squats trong vòng 1 tiếng đồng hồ đáng kể là chưa ai làm được. Kể cả nhà Vô địch Thế giới môn này Attila Hovarth vận động viên đẩy tạ 2 lần dự Olympic 1992 – 1996 của Hungary với kỷ lục 4.656 lần/giờ.

Để chính thức hóa việc phá kỷ lục của mình, ngày 16.12.2007 bà đã biểu diễn tài nghệ này trước sự chứng kiến của đông đảo người hâm mộ và cả Ban Biên tập Kỷ lục Guinness Quốc tế tại sân vận động của ĐH San Francisco ở California: Hoàn tất 5.135 lần “thụt dầu” đúng quy cách trong chỉ 1 tiếng đồng hồ (kém thành tích cao nhất của mình phần nào do lúc này đã gần 40 tuổi).

1.133 - Thích Minh Châu
CẦU NỐI PHẬT GIÁO HÒA HỢP CỘNG SẢN
Tu sĩ Phật giáo sinh 1920 tại Quảng Nam. Sống ở TPHCM (2012).
Tu sĩ Phật giáo xuất gia ở Huế rồi du học An Độ đậu tiến sĩ. Năm 1964 trở về Sài Gòn làm viện trưởng Viện ĐH Vạn Hạnh trực thuộc Giáo hội PG VN Thống nhất, là tu sĩ PG hiếm hoi đạt bằng cấp đại học nước ngoài cao nhất thời này nên rất có uy tín trong và ngoài nước.
ĐH Vạn Hạnh đương nhiên truyền bá tinh hoa tư tưởng PG tập trung nhiều giáo sư và sinh viên gốc miền Trung theo đạo Phật mang sẵn tinh thần dân tộc, từ đó dễ chuyển dần qua khuynh hướng thiên tả, thân Cộng chống chế độ Thiệu – Kỳ. Vì thế không lạ sau 30.4.1975 được chính quyền Cộng sản khá ưu ái.

Từ đó vị viện trưởng cũ tỏ rõ theo phái chủ trương “sống chung” hợp tác với Cộng sản do các hòa thượng lãnh đạo PG miền Nam lúc đó Thích Trí Thủ, Thích Trí Tịnh dẫn đầu đối lập với phái PG chống đối Cộng sản của hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ.

Bản thân nhờ trình độ trí thức cao, khả năng ngoại giao linh hoạt được cử làm đại diện làm việc trực tiếp với chính quyền Cộng sản. Tích cực tham gia vận động thành lập giáo hội PG mới thiên Cộng là Giáo hội PG VN (giữ chức vụ tổng thư ký) đối lập với giáo hội cũ là Giáo hội PG VN Thống nhất chưa chịu chấp nhận Cộng sản (xem như bị cấm hoạt động, sau khi hòa thượng Thích Huyền Quang qua đời hầu như đã “hoàn thành nhiệm vụ lịch sử”!).
Nhờ đó được chính quyền cho chuyển ĐH Vạn Hạnh thành Viện Phật học Vạn Hạnh rồi lập thêm trường Cao cấp Phật học VN, Viện Nghiên cứu Phật học VN.

Sau khi đã làm được một số việc nhằm bảo vệ và hoằng dương đạo pháp (nổi trội về mặt giáo dục) như trên trong tình thế thời cuộc rất khó khăn, đến cuối đời lặng lẽ rút lui về ở ẩn chuyên lo tiếp tục biên soạn, dịch thuật kinh sách với hơn 30 tác phẩm đã hoàn thành.

1.134 - Thích Quảng Độ
PHẬT GIÁO CHỐNG CỘNG QUYẾT LIỆT NHẤT
Tu sĩ Phật giáo tên thật Đặng Phúc Tuệ sinh 1927 tại Thái Bình. Sống ở TPHCM (2012).
Trước 1975 từng làm Tổng Thư ký Viện Hóa đạo của Giáo hội PGVN Thống nhất (tuơng đương cơ quan “hành pháp” của Giáo hội), sau đó là Phó Tăng thống của Viện Tăng thống (tương đương cơ quan “lập pháp” của Giáo hội).
Sau 1975 cùng hòa thương Thích Huyền Quang viện trưởng Viện Tăng thống đối lập với chính quyền Cộng sản, đòi quyền tự do tôn giáo thực sự.
Vì thế đã nhiều lần bị chính quyết bắt giam, thậm chí đưa ra tòa lãnh án tù: Năm 1977 bị bắt giam ở TPHCM rồi đưa ra tòa nhưng do sức ép công luận quốc tế nên không kết án; năm 1982 lại bị bắt đưa về quản thúc tại quê nhà Thái Bình; năm 1992 được cho về lại TPHCM song qua năm 1994 viết tài liệu cáo buộc chính quyền đàn áp PG (cả gửi thư lên Tổng Bí thư Đỗ Mười lúc đó) nên 1995 bị bắt lần nữa đưa ra tòa chịu án 5 năm tù; đến 1998 được trả tự do trước thời hạn; tuy nhiên 1999 ra Quảng Ngãi vận động Phật tử đấu tranh liền bị bắt áp tải về TPHCM, từ đó xem như bị quản thúc tại chỗ ở nơi mình trụ trì là Thanh Minh Thiền viện.

Năm 2008 sau khi hòa thượng Thích Huyền Quang viên tịch, được cử làm quyền Tăng thống. Đến cuối năm 2011 trong Đại hội PGVN Thống nhất tổ chức ở Mỹ mới chính thức được suy tôn làm Tăng thống Giáo hội PGVN Thống nhất (đệ ngũ Tăng thống) trên danh nghĩa vì giáo hội này từ lâu không được chính quyền hiện tại công nhận. Hơn nữa, do tuổi già nên cũng không còn phát triển hoạt động mạnh mẽ như trước kia.
Vì các hoạt động tranh đấu cho quyền dân chủ và tự do tôn giáo nên được một số tổ chức nhân quyền quốc tế trao giải nhà vận động dân chủ như tổ chức Thorolf Rafto của Na Uy năm 2006, tạp chí A Different View ở Châu Au năm 2008 nhưng đều từ chối đi nhận giải vì ngại sẽ không được phép trở về nước nữa.

1.135 - Thích Trí Thủ
DẪN ĐẦU PHẬT GIÁO HÒA HỢP CỘNG SẢN
Tu sĩ Phật giáo tên thật Nguyễn Văn Kính sinh 1909 tại Quảng Trị – Mất 1984 ở TPHCM (76 tuổi).
Tu học tại Huế, năm 1963 dẫn đầu Phật giáo miền Trung chống chế độ Ngô Đình Diệm.
Sau khi chế độ này bị lật đổ, vào Sài Gòn làm viện trưởng Viện Hóa đạo được xem như cơ quan “hành pháp” của Giáo hội PGVN Thống nhất (bên trên còn Viện Tăng thống đóng vai trò tương đương cơ quan “lập pháp” của Giáo hội).
Sau ngày Công sản toàn thắng, bản thân theo chủ trương chấp nhận hòa hợp tôn giáo với chính quyền mới khác với Viện Tăng thống do hòa thượng Thích Huyền Quang dẫn đầu đấu tranh đòi PG độc lập với chính quyền, thậm chí đi đến chỗ chống đối mà đại diện hiện nay là hòa thượng Thích Quảng Độ.
Từ đó năm 1977 từ bỏ giáo hội cũ là Giáo hội PGVN Thống nhất để tham gia vận động thành lập Giáo hội PG mới là Giáo hội PGVN và nhận chức Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội (giống Viện Hóa đạo trước kia).
Trong giai đoạn khó khăn PG phải đối đầu với chế độ Cộng sản “vô thần”, đã đóng vai trò trung gian quan trọng mà tế nhị bảo vệ đạo pháp vẹn toàn theo chính kiến riêng của mình tương tự cố Tổng Giám mục Sài Gòn – Nguyễn Văn Bình bên Thiên Chúa giáo.

1.136 - Tô Kiều Ngân
KHÔNG ĐI H.O
Nghệ sĩ ngâm thơ tên thật Lê Mộng Ngân sinh 1926 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở TPHCM (2012).
Lớn lên vào Sài Gòn hoạt động văn nghệ, là một nghệ sĩ đa tài viết văn, làm thơ, dịch thơ Đường, chơi đàn tranh đàn bầu nhưng nổi bật nhất là nghệ thuạt ngâm thơ truyền cảm (kèm thổi sáo, thổi harmonica điêu luyện) qua chương trình thơ Tao Đàn hàng tuần trên Đài Phát thanh Sài Gòn chế độ cũ (phụ trách luôn sau khi nhà thơ Đinh Hùng sáng lập qua đời).
Bị gọi đi lính, ra trường sĩ quan chuyển về ngành tâm lý chiến.
Từ đó sau 75 mang lon trung tá phải đi cải tạo dài ngày.
Nhưng sau khi được trả tự do đã chấp nhận ở lại cùng gia đình không đi Mỹ theo diện H.O.
Trở lại đời thường sống đời thanh thản tìm vui qua những hoạt động văn nghệ thầm lặng như ngâm thơ ghi đĩa, ngâm thơ phổ biến trên mạng, làm thơ nhắc nhớ kỷ niệm quê nhà Huế, nghiên cứu ca Huế, viết báo, viết sách dạy học thổi sáo, ngâm thơ, thổi kèn harmonica…

1.137 - Tô Thùy Yên
BÀI THƠ LỚN TÙ CẢI TẠO
Nhà thơ tên thật Đinh Thành Tiên sinh 1938 tại Gò Vấp, TPHCM. Sống ở Mỹ (2012).
Di cư 1954 vào Nam.
Học ĐH Văn khoa Sài Gòn, làm thơ từ đó gia nhập nhóm Sáng Tạo gồm đa số nhà văn miền Bắc di cư thành lập tạp chí văn nghệ cùng tên vận động mở đường cho trào lưu xây dựng nền VHNT mới cho miền Nam tự do dân chủ.
Trong đó phần mình có đóng góp đáng kể cho thể loại thơ tự do, cùng với Thanh Tâm Tuyền được xem là hai nhà thơ tiên phong của trào lưu này. Tác phẩm thơ thường làm những bài dài mang tính tự sự triết lý sâu xa.
Năm 1963 bị gọi nhập ngũ, ra trường làm sĩ quan tâm lý chiến.
Vì vậy sau 30.4.75 mang hàm thiếu tá phải đi cải tạo hơn 10 năm.
Tuy nhiên sau khi được thả ra còn bị bắt thêm 2 lần nữa vì tình nghi chống đối chế độ cộng sản song mỗi lần chỉ giam giữ khoảng một năm thôi.
Trong thời gian trở về từ trại cải tạo đã sáng tác bài thơ dài “Ta về” 124 câu đáng kể là khúc trường ca thơ bi tráng về chủ đề tù cải tạo có chất luợng, giá trị nhất của các nhà thơ VNCH cũ. Bài thơ đã sớm được chuyển qua Mỹ phổ biến, được nhạc sĩ Cung Tiến bạn thân thiết phổ nhạc năm 1992. Nguyên văn:

Ta về
“Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay.

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay.

Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu.

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ.

Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi.

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi.

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng.

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này.

Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa.

Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi.

Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời.

Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can.

Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta.

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền.

Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương-khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa.

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi .


Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây, những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?

Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu.

Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều một chẳng làm nên
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên.

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông.

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau.

Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm.

Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng nỗi xót xa.

Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm một tối vui
Trăng sáng soi hồn ta vết phỏng
Trọn đời nỗi nhớ sáng khôn nguôi.

Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống, đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen.

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đa khuất
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa.

Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao.

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh.

Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
Đọc lại bài thơ thủa thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi.

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.”

Năm 1993 cùng vợ con qua Mỹ định cư theo diện H.O, để lại người vợ sau – một nhà văn có tên tuổi - cùng một con gái mắc bệnh dộng kinh trầm kha.
Trên đất Mỹ tiếp tục làm thơ, xuất bản 2 tập “Tuyển tập thơ Tô Thùy Yên” 1995 và “Thắp tạ” 2004.

1.138 - Tô Tiến Hòa
3 ĐỜI NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM
Nông dân sinh 1948 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2007).
Bộ đội trên chiến trường Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế, bị thuơng nên được đưa ra Bắc an dưỡng năm 1972 rồi xuất ngũ về quê làm ruộng.
Lấy vợ sinh con bị dị tật, teo cơ, da lỡ loét do nhiễm CĐDC. Con lớn lên lấy vợ sinh con cũng bị khuyết tật không có chân, các ngón tay dính vào nhau…
Bản thân ông về già cũng phát tác di chứng về CĐDC gây đau đầu, da lỡ lói, mắt mờ, tai điếc. Nhưng vì thương cháu quá ham học nên hàng ngày phải chịu khó cõng cháu đến trường xin học…

1.139 - Tô Văn Khải
MỘT ĐỜI CÕNG CHA MẸ
Lao động nghèo sinh 1971 tại Tây Ninh. Sống ở TPHCM (2007).
Trong thời chiến tranh chống Mỹ, gia đình sống trong vùng chiến khu Tây Ninh nên cha mẹ bị nhiễm CĐDC lúc nào không hay (còn 4 ông bác ông chú đều là liệt sĩ). Cha bị phù thủng, suy nhược toàn thân; còn mẹ bị trúng miểng bom trong một trận bom Mỹ làm 2 chân co rút lại bại liệt và thần kinh bất ổn nhiều khi mê mê tỉnh tỉnh như người mất trí.
Ngoài ra còn thêm 2 em gái cũng mắc bệnh bại não cứ gặp trời nóng lên là lên cơn động kinh phá phách, cấu xé cả bản thân mình.
Vì thế từ nhỏ đã phải đi bòn mót khoai sắn ngoài đồng, thậm chí còn lượm phân bò đem bán cho nông dân giúp cả nhà thêm miếng cơm cầm hơi.
Năm 1989 gia đình chuyển về sống ở Củ Chi mong “đổi đời” thoát khỏi ám ảnh chiến tranh u ám. Nhưng cảnh nhà vẫn không khá hơn được chút nào do chỉ có một mình mình còn sức khỏe đi ra ngoài làm thuê, tối về cặm cụi đan rổ rá kiếm thêm chút tiền nuôi cha mẹ và 2 em gái. Khi cha mẹ và 2 em lên cơn đau vẫn chỉ một mình lo cõng chạy băng đồng lên trạm xá, chữa trị qua loa về nhà nếu có ai còn lên cơn thì lại cõng đi vòng vòng quanh sân để cho… dịu bớt cơn đau!
Riết rồi chịu không thấu, đến lượt mình bệnh nằm dài cả tháng, thế là cả nhà… đói! Đẩy vào chỗ tuyệt vọng tới mức có lần định cùng cả nhà… uống thuốc trừ sâu chết đi cho xong, may mà cuối cùng kịp tỉnh lại đem giấu chai thuốc trừ sâu không cho ai biết.
Hoàn cảnh bi đát tận cùng như thế mà lại còn phải làm thêm một nhiệm vụ báo hiếu nữa theo yêu cầu của cha là… lấy vợ để dòng họ khỏi bị tuyệt tự!
Cũng lấy được vợ nghèo như mình rồi cũng sinh được bé gái đầu lòng. Đến đó mới nảy ra mối lo nữa không biết cháu có bị ảnh hưởng hậu quả CĐDC hay không khi đến hơn 2 tuổi vẫn chưa biết nói. Ông bà, cha mẹ lo lắng như ngồi trên lửa, may mà đến 3 tuổi thì bé nói được ai cũng mừng không kể xiết.
Tuy nhiên vui mừng chưa được bao lâu thì đại tang kéo đến, đầu tiên một em gái lên cơn động kinh nặng không qua khỏi rồi kéo theo bà mẹ đau lòng quá cũng ra đi theo chân con. Với lời trăng trối để lại cho con trai duy nhất ráng lo tiếp cho cha và em gái được lúc nào hay lúc đó.
Thế là bây giờ lại tiếp tục cõng cha cõng em đi cho hết quảng đời còn lại.
Dù sao nay cũng còn được niềm an ủi là có đứa con gái nhỏ chạy lẫm chẫm theo sau cha cõng ông bà bi bô gọi “ba ba” trong khi lẽ ra em mới là người được cha cõng trên vai!

1.140 - Tod Adamson – Jennifer Arias
QUÊ VIỆT NỐI NHỊP CẦU TÌNH YÊU
Cặp vợ chồng Mỹ sinh tại Việt Nam. Sống ở Mỹ (2012).
Chồng là con lai Mỹ bị cha Mỹ bỏ rơi, sinh ra lại bị bại liệt nên mẹ Việt đem cho trại mồ côi ở Đà Nẵng trước 1975, được trại đặt tên Việt là Trường Thắng. Tháng 4.1975 được máy bay Mỹ đưa qua Mỹ trong chiến dịch “giải thoát” trẻ mồ côi mang tên Babylift (khoảng 2.000 em qua Mỹ và 1.300 em qua Canada, Uc, Châu Au).
Vợ cũng là con lai Mỹ bị mẹ đem bỏ rơi trước Viện Cô nhi ở Sài Gòn, được các bà xơ nuôi nấng đặt tên Việt là Phương Hồng Lan. Cũng qua Mỹ trong chiến dịch Babylift.
Năm 2000 cả hai đều tìm về thăm lại quê mẹ sau bao năm xa cách, gặp nhau trên cùng chuyến bay từ đó nảy sinh tình yêu. Trở về Mỹ làm đám cưới năm 2001.

(Còn tiếp)




nhạc - Nho Nhỏ

Show đặc biệt  với 2 ca sĩ Nắng Ấm & Lang Thang .

Xin click vào hình để nghe nhạc

Nho Nhỏ
thơ: mưa phố núi
nhạc:lang thang

Bài thơ tình nho nhỏ
em gởi hạt mưa bay.
Trao anh làm nổi nhớ
về em suốt năm dài.

Lời thơ tình chưa ngỏ ...
cánh bướm lạc chân mây
Dòng đời vô tình, mấy ?
ai biết lời thơ say !

Gửi tình theo gió, lả lơi gió bay
Bàn tay em nhỏ, ôm mộng thơ ngây
Mưa gieo nỗi nhớ, chơi vơi chơi vơi
Hạt mưa nho nhỏ, bay bay giữa trời
Nương theo cánh gió, tình ơi tình ơi
Nụ hôn nho nhỏ, ướt mềm trên môi
Áo em màu nắng, ngả chiều nắng trôi
Anh còn giữ mãi,
mộng say giữa đời

Lời thơ nồng trên vở...
mực tím còn vương tay.
Anh mang theo nổi nhớ,
hành trang qua từng ngày.

Đây thơ tình nho nhỏ ...
ướp áo em màu mây .
Biết người còn đón lấy ,
mộng em ươm vẫn đầy .

Đây thơ tình nho nhỏ ...
ướp áo em màu mây.
Biết người còn đón lấy,
mộng em ươm vẫn đầy.
Biết người còn đón lấy,
mộng em ươm vẫn đầy.
Vẫn ... đầy


Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012

LỐI CŨ - HOÀNG THỊ THIỀU ANH

Em về ngang lối nhỏ
Dẫm phải lá vàng khô
Tim ta chợt ngẩn ngơ
Nghe mùa thu vụn vỡ

Chiều say nghiêng nỗi nhớ
Bao niềm riêng ngọt ngào
Em quên về lối cũ
Cho lòng ta xanh xao.


HTTA

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2012

photos - Bàn tay em

Bàn tay em


Năm ngón kiêu sa



Duyên dáng hòa nhã



Cập nhật năng động



Truyền anh hơi ấm



Nồng nàn trao anh

Mưa phố núi



NHỮNG CHIỀU CỦA NGƯỜI CÔ ĐỘC - HẠC THÀNH HOA

1.
Anh còn lại những buổi chiều
Những buổi chiều dáo dác kiếm tìm
Những buổi chiều nghển cổ nhón gót
Những buổi chiều đưa vào quán nước cho thở
Mồi thuốc cho hút, dìu lên xe và đỡ đầu bằng cánh tay êm ái nhất.
Buổi chiều đưa về con đường ký ức ngắn nhất để cùng một lượt
vừa gặp gia đình vừa gặp lại bạn bè.
2.
Anh còn lại những buổi chiều
Những buổi chiều ve vuốt lá xanh xao
Những buổi chiều nghe chuông reo lần cuối
Áo vàng hoàng yến, áo tím hoàng hôn,
lòng tắt nắng trở về.
Ôi những buổi chiều bình minh
Sau một ngày ra công vỡ đất
Sau một ngày tự giam cầm trong vỏ cứng khô
Sau một ngày vác mỏi lu tượng đồng tiếng nói không ngừng
Sau một ngày những cặp mắt bồ câu mỗi lúc một xa
Những bước chân người càng đến gần vực sâu lịch sử
Sau một ngày càng lặng câm lủi thủi càng giống người tiền sử bơ vơ.
3.
Anh còn những buổi chiều
Những buổi chiều mang đến từng cơn gió mát hồi sinh mầu nhiệm
Từng khoảnh khắc ngày tàn để thở ra kỳ hết nỗi buồn
Anh ngây ngất trong em mùi thơm mát dịu của Jasmine
Ôi những chiều vàng đơn độc lang thang trên phố không người
Ta thắp lên đôi ngọn nắng nhớ nhung
Trong mắt tròn ngơ ngác.

photo - AMARYLIS

Hoa Amarylis












Đây là loại hoa trồng từ củ , rất dễ trồng ,vùi củ vào chậu hay ngoài đất. Mỗi năm hoa chỉ ra hoa một lần như lan - có người gọi là địa lan.
mưa phố núi
 

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

TA VỀ - TÔ THUỲ YÊN

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay.

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay.

Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu.

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ.

Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi.

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi.

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng.

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này.

Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa.

Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi.

Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời.

Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can.

Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta.

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền.

Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương-khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa.

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi .

Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây, những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?

Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu.

Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều một chẳng làm nên
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên.

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông.

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau.

Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm.

Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng nỗi xót xa.

Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm một tối vui
Trăng sáng soi hồn ta vết phỏng
Trọn đời nỗi nhớ sáng khôn nguôi.

Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống, đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen.

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đa khuất
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa.

Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao.

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh.

Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
Đọc lại bài thơ thủa thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi.

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta

TTY
(Bài thơ được viết sau mười năm trong trại cải tạo trở về )

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

Thơ - PHƯỢNG TÍM




PHƯỢNG ĐỎ - PHƯỢNG TÍM

Trời Sài Gòn rộn rã tiếng ve chưa ?
Gọi hè trên những tàn phượng vỹ .
Ký ức tôi là những chùm phượng đỏ,
Ửng chút hồng cho đôi má em xinh .

Cali vào hè không một tiếng ve !
Không cả lá me vương tóc rối .
Chỉ có màu phượng tím...
Jacaranda man mác buồn .

Màu tím của chia ly day dứt ,
Như nổi lòng kẻ tha hương ,
Mang theo khung trời mộng .
Màu tím những ước mơ ,hun đút dại khờ .

Màu tím của anh trong nổi nhớ ,
Áo em lúc chia tay,
Hơi thở của những chiều mưa bay ,
Đạp xe loanh quanh thành phố .

Kỷ niệm ? cho những đôi tình nhân ...
Sẽ trở thành hoài niệm .
Cho người ở lại là nổi nhớ khôn nguôi .
Cho những kẻ giống tôi - xa xứ
Là những khát vọng bất tận !

Cali mưa tôi nhớ nắng Sài Gòn .
Cali buồn trong cơn mưa tầm tả ,
Kẹt xe trên freeway tôi thèm chút nắng xưa
Vàng tươi hong khô nổi nhớ .
Màu phượng đỏ rực rỡ, hối thúc những con tim
Xôn xao dòng lưu bút .
Và nổi buồn chia ly hiu hắt đến gần .

Hai mươi năm vắng xa...
Hai mươi bản nhạc hè đã mất .

Và cứ thế dòng đời trôi tất bật !
Mưa bên này - và nắng ở bên kia ./.

 
MPN 

thơ -HOÀNG HÔN ...VẮNG

HOÀNG HÔN ...VẮNG

Biển chiều nay vắng người se se lạnh .
Gió từng cơn vật vả vờn tóc mây .
Chiếc áo khoác mong manh không ấm nổi .
Trút ưu phiền theo hương gió biển khơi .

Biển vắng quá người ta đâu rồi nhỉ ?
Từng đàn chim chao lượn tìm mồi .
Và mỗi tôi lang thang trên biển vắng .
Để tìm về một ký ức xa xôi ...

Biển ồn ào vỗ bọt tung trắng xóa !
Đàn Hải Âu chao cánh nghiêng qua .
Hương biển mặn môi tôi ,hay nước mắt ?
Khóc một người vừa chạy trốn tim ta.

Nhớ một ngày chúng ta cùng tắm biển,
Nhặt vỏ sò Anh mua trái tim tôi .
Cười khúc khích tôi bảo tim không bán .
Chỉ để dành riêng tặng một người thôi .

Chiều đang xuống nghe lòng mình trống vắng !
Trong ánh chiều tàn ,Anh đã ghé môi hôn .
Môi bạo dạn tìm làn môi nhút nhát .
Hơi thở dồn làm choáng ngộp thơ ngây ...

Chưa yêu ai như yêu Anh đâu nhé !
Chưa hề hôn như cái kiểu Anh hôn ...
Chúng ta đang già ,biển còn mãi trẻ ,
Vẫn ôm đồm như tính cách Anh tôi .

Bất chợt , đôi tình nhân không còn trẻ !
Dựa vai nhau cùng ngắm ánh chiều rơi .
Hoàng hôn buông trên mái tóc hai người .
Đầu điểm bạc không phai lời hẹn ước .

Chiều nhạt dần , mặt trời lăn xuống biển .
Lũ chim trời hối hả trốn về đâu ?
Màn đêm phủ nhuộm bầu trời sắc thắm .
Ánh sao hôm vừa mới nhú trên cao .

Đôi nhân tình lặng lẽ rời vai nhau .
"Mai gặp nhé ! anh yêu "- "Ừ ! mai gặp "
Và như thế , hai người về hai ngã .
Không nhiều lời , không cả một nụ hôn !