Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

TÌNH THIÊN THU - HOÀNG THỊ THIỀU ANH

Giấu giọt buồn vào mắt.
Giấu sợi nhớ vào tim.
Nỗi khao khát vội tìm.
Dưới miền trời xa lắc.

Giấu cô đơn đi lạc.
Hoang phế cả buổi chiều.
Giấu mảnh tình cô liêu.
Trong ngăn sâu kí ức.

Giấu thu xưa trong vắt.
Đáy chiếc lá vô tình.
Giấu mùa hạ lặng thinh.
Đáy màu hoa u uất.

Giấu mùa đông ngàn ngạt.
Giữa mưa bão chập chùng.
Giấu xuân giữa mông lung.
Sương khoắt khuya trầm mặc.

Giấu! giấu chôn tất cả!
Tận thăm thẳm nấm mồ.
Ta về ru tình ngủ.
Ôi! Cuộc tình thiên thu…

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2012

thơ- Sương -Trúc


Sương -Trúc

Mong manh là những hạt sương,
Giữa đời ẩn hiện vô thường tặng ai ?
Trúc xanh trúc mãi dẻo dai,
bền cùng tuế nguyệt, dạn dày bảo giông.

Đầu sông lại nhớ cuối sông,
Thả trôi dòng nước, bềnh bồng trúc lay
Về đâu hỡi áng mây bay?
Thả ngụm sương trắng - thả đầy ước mơ.

Héo hon vì mãi ngóng chờ
Đắng cay dang dở - lửng lơ phận mình
Chữ tình trao đấy vững tin !
Chữ thương chữ nhớ - ẩn hình - trúc sương.

mưa phố núi

ĐẶT BÚT VIẾT THÌ PHẢI TRỞ VỀ VỚI CHUẨN MỰC

Ngôn ngữ là để diễn đạt suy nghĩ. Nhiều bậc phụ huynh đang lo ngại vì thấy con dùng từ ngữ tiếng Việt không chuẩn. Chuyện này diễn ra hằng ngày và ngày càng phổ biến sẽ ảnh hưởng đến hành động giao tiếp của cả một thế hệ.

Trao đổi về vấn đề này, Nhà giáo Nhân dân, GS-TS Đinh Văn Đức - nguyên Chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ học Trường ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc gia Hà Nội - cho biết:

- Chúng ta phải có cái nhìn rộng hơn về việc dùng những từ ngữ chưa từng có trong tiếng Việt của giới trẻ hiện nay. Trong giao tiếp ngôn ngữ, người nói tiếng mẹ đẻ khi có xu hướng theo nhau trong một lối nói nào đó thì đến một thời điểm lối nói ấy tự nhiên sẽ dần trở thành quy tắc tự nguyện của cộng đồng (nói như nhà văn Lỗ Tấn: “Người ta đi mãi thì thành đường thôi”).

Ngôn ngữ của chúng ta luôn biến động. Về mặt tích cực, nó tạo ra lối nói mới phong phú và tốt hơn, nhưng mặt tiêu cực thì cũng có khi tạo ra những cách nói bị coi là không chuẩn mực, ảnh hưởng đến văn hóa giao tiếp. Đây là sự tất yếu của cộng đồng trong sử dụng ngôn từ; do đó phải quan tâm đến những can thiệp làm cho hành vi ngôn ngữ được tốt hơn, văn minh hơn.

Có nhiều lý do để một số bạn trẻ - vốn nhạy cảm, năng động, thích tạo ra từ ngữ mới cho nhóm xã hội của mình, từ ngữ ấy không chuẩn với tiếng mẹ đẻ. Một số muốn mình nổi trội hoặc muốn tạo ra dấu ấn riêng, tếu táo viết trên blog, nhắn tin mà chưa có đủ sự trang bị về văn hóa. Tuy nhiên, nếu xã hội không tìm cách điều chỉnh thì dần dần một số cách nói có thể được phổ biến trong cộng đồng.

Trong ngôn ngữ có nguyên tắc: Người bản ngữ luôn nói đúng. Tức nếu không thực hành giáo dục, can thiệp thì “mưa dầm thấm lâu”, một số biểu đạt phi chuẩn sẽ có cơ được cho qua. Tuy nhiên theo quy luật chọn lọc, những cái xấu sẽ tự bị đào thải khỏi ngôn ngữ.

Từ cách viết tắt 100 nghìn đồng thành 100k, dần dần bây giờ có nhiều cửa hàng treo biển giá 100k, 120k. Rõ ràng đây là sai với chuẩn tiếng Việt. Giáo sư có ý kiến gì?

- Đây là một trong số nhiều hiện tượng dùng không đúng hiện nay. Có thế thấy khắp các phố phường nước ta nhan nhản biển cửa hàng, biển hiệu, quảng cáo... bằng tiếng nước ngoài, gây phản cảm, bức xúc, bị bạn bè quốc tế chê cười. Điều này rất ít có ở các nước khác. Có 2 lý do dẫn đến tình trạng này là hạn chế về văn hóa ngôn ngữ và sự can thiệp còn quá yếu.

Như đã nói, trong ngôn ngữ mà cứ để tự phát thì mọi cái tiêu cực dễ có chỗ đứng, nên chúng ta phải có sự can thiệp kịp thời. Theo tôi, có mấy nhân tố cần tính tới: Thứ nhất, bản thân mỗi người phải có ý thức trau dồi văn minh, văn hóa ngôn từ qua nâng cao tầm hiểu biết, từ đó tự điều chỉnh cách dụng ngôn. Thứ hai, sự can thiệp của Nhà nước sẽ điều chỉnh hành vi ngôn ngữ theo luật pháp.

Năm 1997, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký quyết định không cho phép dùng tên nước ngoài trên các biển hiệu và quảng cáo, nhưng quyết định này không đi vào đời sống vì không được tích cực thực thi. Nếu làm như việc yêu cầu đội mũ bảo hiểm thì sẽ có chuyển biến ngay. Thứ ba, gia đình và nhà trường là những kênh giáo dục ngôn ngữ rất quan trọng. Nhà trường từ rất sớm cần dạy cho trẻ những chuẩn mực của tiếng mẹ đẻ.

Trẻ em tới trường phải được học nghi thức lời nói, học viết đúng chính tả..., phải được học kỹ năng nói trước công chúng để không thiếu tự tin và lịch sự khi nói trước đám đông... Thứ tư, chính là lòng yêu tiếng mẹ đẻ. Điều này phải được phát huy qua sách báo, ngôn ngữ truyền thông, ngôn ngữ văn học nghệ thuật...

Thưa Giáo sư, hiện tượng dùng từ lệch chuẩn tiếng Việt của giới trẻ ảnh hưởng như thế nào tới ngôn ngữ ở thời điểm hiện tại cũng như về lâu dài?

- Việc dùng từ ngữ lệch chuẩn tiếng Việt rất khó giảm nếu chỉ bằng biện pháp hành chính. Ngôn ngữ là thứ thiết chế xã hội tự nguyên của con người nên phải giúp các bạn trẻ tự giác hơn, vì nay xã hội ta đang trong thời kỳ chuyển đổi và hội nhập quốc tế. Nhiều giá trị đang bị bung ra và ngôn ngữ cũng nằm trong xu hướng đó. Tiếng Việt đang bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố pha tạp. Nếu không có ý thức và biện pháp điều chỉnh sẽ dễ sinh ra những thứ lệch chuẩn. Lâu dần, tiếng Việt sẽ khó giữ được sự trong sáng và giàu đẹp mà cha ông để lại.

Do đó, Nhà nước ta cần sớm ban hành luật ngôn ngữ để làm cơ sở cho các văn bản quản lý. Quan trọng nữa chính là từ ngữ trong dụng ngôn của các cơ quan truyền thông cần nêu gương cho công chúng. Ngôn từ báo chí phải thật sự là tấm gương của sự chuẩn mực. Truyền thông là một kênh quan trọng ảnh hưởng rộng lớn tới cách dùng ngôn ngữ của công chúng, nhất là đối với những người trẻ tuổi.

Trên giảng đường, với tâm huyết và trách nhiệm, tôi thường xuyên nêu vấn đề nóng hổi trong việc dùng từ ngữ để sinh viên thảo luận. Qua đó họ tăng thêm hiểu biết, được tác động can thiệp và đã có những thay đổi trong hành vi giao tiếp theo hướng tích cực và duy trì bền vững.
- Xin cảm ơn Giáo sư!
Thu Trà thực hiện
( LAO ĐỘNG
)

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

TỰ BẠCH 1 - NGUYỄN MIÊN THẢO

Năm anh ba mươi tuổi
Ngở mình đi đúng đường
Giờ sắp tuổi lai hi
Mới biết mình lạc lối

Mười hai năm làm quan
Lòng luôn sao bức bối
Mười tám năm làm dân
Mới biết mình có tội

Mười tám năm làm thinh
Mười tám năm không nói
Em tặng một ngày xuân
Cuộc đời anh tươi mới

Chỉ cần nụ cười em
Cuộc đời anh đã khác
Chỉ cần được yêu em
Anh không con đi lạc.

Khung trời kỷ niệm.

           
                                                                               
Nhạc : Hoàng Thanh Việt
Lời : Tú Nhi


Hôm nao thu về lá rụng ngoài sông
Ngắm cánh chim trời đôi mắt em mong
mong chim bay mỏi cánh
mong thu thôi tàn úa
để lòng mình vơi nhung nhớ
alt
Mai đây anh về ấm lại mùa trăng
Đếm lá thu tàn nghe gió đông sang
Anh đi phương trời ấy,
xa xôi ôi vạn lý...
Nhạt nhòa mờ theo tháng năm

Đêm đêm nghe đã nhiều rồi
cơn mê ngần ấy bao lời ái ân
Buồn lên đôi mắt thương kiếp mây trôi
và khung trời đó... Nhung nhớ đầy vơi
alt
Hôm nay thu về nắng nhạt đầu non
Khuất áng mây chiều cho mắt em mong
mong đêm mau trở sáng
cho yêu thương tìm đến
để đời đẹp như ước mơ...
alt

Lưu bút ngày xanh.

                           

Lòng xao xuyến mỗi khi hoa phượng rơi

Nhắc lại câu chuyện buồn
Trường còn kia ôi mái đổ tường rêu
Nơi kỷ niệm êm ái
Đâu dư âm của tiếng nói ngây thơ
Ngày hai đứa dìu nhau đến sân trường
Cùng đuổi bướm hái hoa trên cuối đường
Tiếng cười vạn tình thương
Lưu bút ngày xanh: …Bắt đầu từ hôm qua
Và thuở ấy biết bao nhiêu buồn vui
Gói trọn trong tuổi đời
Tình đẹp như trang giấy kết vần thơ
Như một nụ hoa trắng
Nhưng bao nhiêu yêu dấu đã phai mờ
Thời gian nỡ vùi chôn tuổi học trò
Người em gái mến thương nơi chốn nào
Bao giờ mình gặp nhau
luubut-2
Có những lần hoàng hôn rớt trên vai
Bước chân đi lòng nuối tiếc ai hoài
Nhặt hoa rơi mà không nói nên câu
Nhớ nhau vì đâu
Biết nói gì tình ta trót chia phôi
Khép tâm tư dành riêng mến một người
Ngày xanh ơi! Ngày xanh chết trong tim
Biết đâu mà tìm
Lưu bút ngày xanh: …Bắt đầu từ hôm qua
Người ơi nhắc đến chi kỷ niệm xưa khiến lòng tôi bùi ngùi
Ngày biệt ly hai đứa đứng nhìn nhau
Anh cài cành hoa tím
Hoa xưa đây nhưng bóng dáng anh đâu
Dòng nhật ký đã ghi nuốt tâm tình
Và đôi lúc nhớ nhau lưu bút còn
Để lại chuyện buồn vui...
alt

Hai Sắc Hoa Tigôn_ ( T.T.KH.)

         

alt
                         Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
                        Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
                        Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
                        Tôi chờ người đến với yêu đương

                        Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
                        Dải đường xa vút bóng chiều phong,
                        Và phương trời thẳm mờ sương cát
                        Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng

                        Người ấy thuờng hay vuốt tóc tôi
                        Thở dài trong lúc thấy tôi vui
                        Bảo rằng: "Hoa dáng như tim vỡ
                        Anh sợ tình ta cũng thế thôi!"

                        Thuở ấy nào tôi đã hiểu gì
                        Cánh hoa tan tác của sinh ly
                        Cho nên cười đáp: "Màu hoa trắng,
                        Là chút lòng trong chẳng biết suy!"

                        Đâu biết một đi một lỡ làng,
                        Dưới trời đau khổ chết yêu đương
                        Người xa xăm quá! Tồi buồn lắm,
                        Trong một ngày vui pháo nhuộm đường ...

 alt

                        Từ đấy, thu rồi, thu lại thu ...
                        Lòng tôi còn giá đến bao giờ
                        Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
                        Người ấy, cho nên vẫn hững hờ

                        Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
                        Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
                        Mà từng thu chết, từng thu chết
                        Vẫn giấu trong tim bóng một người

                        Buồn quá! Hôm qua xem tiểu thuyết
                        Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
                        Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ
                        Và đỏ như màu máu thắm pha!

                        Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
                        Một muà thu trước rất xa xôi ...
                        Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
                        Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

                        Tôi sợ chiều thu nhạt nắng mờ
                        Chiều thu hoa đỏ rụng, chiều thu
                        Gió về lạnh lẽo chân mây vắng
                        Người ấy bên sông đứng ngóng đò

                        Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
                        Trời ơi! Người ấy có buồn không
                        Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
                        Tựa trái tim phai, tựa máu hồng
 alt

LÃNG THANH: KHUÔN MẶT EM PHI NHƯ ĐIÊN CUỒNG - TRẦN MẠNH HẢO



Xin cám ơn nhà văn Đỗ Viết Nghiệm, trong một dịp tình cờ, đã cho tôi tập thơ “HOA” của tác giả Lãng Thanh, NXB Thanh Niên 2003. Tôi đã đọc một mạch hết tập thơ 71 trang khổ 20,5 x 17,5 cm này trong niềm hứng khởi hiếm có (Trần Mạnh Hảo).

LÃNG THANH: GƯƠNG MẶT EM PHI NHƯ ĐIÊN CUỒNG

Lãng Thanh, tiếng sóng thơ ném ra cuộc đời này một dồn nén vỗ, một bùng vỡ kêu thương, quằn quại mà dịu dàng, nhức buốt mà thương mến. Tiếng sóng ấy vừa vọt lên từ bến thẳm thi ca đã mất hút vào hư vô, chỉ để lại chút dư âm gió hú. Lãng Thanh tên thật là Lê Quốc Tuấn, sinh năm 1977 tại Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ, mất ngày 20.07.2002 trong một tai nạn bi thảm: hai cha con anh đã đều bị tên bà con nghiện ma túy (con cô con cậu ruột) giết chết ngay trong chính nhà mình.
Mới 25 tuổi đời đã hóa mây bay, Lãng Thanh có hai bằng đại học, làm ngành ngân hàng ở Vĩnh Phúc, biết thành thạo 3 ngoại ngữ: Anh, Pháp, Trung Quốc, có tài năng trong các lĩnh vực: hội họa, thư pháp và thơ ca. Xin nghiêng mình thắp cho em một nén nhang, và xin mượn câu thơ rất hay sau đây của Lãng Thanh làm tên cho đầu bài viết mọn này. Chừng như nỗi chết đã ám thơ Lãng Thanh bằng chính tình yêu: Em đến cứu chuộc anh bằng một điềm gở? Xin dẫn đoạn IV trong bài thơ “Thơ trước tuổi 21”; tôi xin phép hương hồn tác giả, đặt cho đoạn thơ này một cái tên: “EM”, có thể đứng một mình, sống như một bài thơ hay hoàn chỉnh với 3 khổ:

Em đến bàng hoàng như cơn sốt
Bỗng môi tôi bất lực
Nụ hôn ơi ngươi khóa cả linh hồn

Em đến bất ngờ như dao sắc
Không đùa tựa những vết thương
Bởi gai hoa lặng chán chường

Em đến vùng vằng như tơ rối
Tìm nhau xa đến không ngờ
Trói anh rồi em lại làm ngơ

Em đến lao đao như lá rụng
Ngày xanh là nghĩa thế nào
Về bên anh khi đã chết rồi sao
Bài thơ “EM” trên là một nghẹn ngào, đọc xong chợt thấy mình bị neo vào tiếng sóng Lãng Thanh, toan đập nát mạn thuyền định mệnh mà hỏi: sao cứ phải yêu như là chết thế này hỡi tạo hóa, hỡi thi nhân? Bài thơ đi theo logic “EM”. Em từ đâu hiện về một cái đẹp môi hôn, hớp hồn. Khổ đầu EM tặng hạnh phúc, khổ thứ hai EM biếu vết thương, khổ thứ ba EM dâng lòi tói, khổ cuối cùng EM ban cái chết! Thế là EM đã lôi thi sĩ về chốn mù tăm, dù hú gọi, tuyệt nhiên không chút hồi âm. Khổ cuối cùng:”Em đến lao đao như lá rụng / Ngày xanh là nghĩa thế nào / Về bên anh khi đã chết rồi sao“ như là thơ của người chết hiện hồn về viết, xúc động đến mức làm ta sờ sợ, hoang mang. Đúng như Lãng Thanh vừa nói, kẻ viết bài này nay mới được “Về bên anh khi đã chết rồi sao“.
Tôi đang ngắm nhành “HOA” Lãng Thanh trong niềm hân hoan và nỗi buồn thương, khi sắp tháng bảy, là ngày giỗ đầu anh. Lãng Thanh từng viết nhiều câu thơ hay về “nàng” - người đàn bà định mệnh - bằng những lời yêu dấu: ”Đôi mắt nàng trong như mới khóc”. Thơ anh vẽ chính hồn mình thành “EM”: Gương mặt của em nặng như nước / Mắt em đong đầy hoa cúc tím” (Hàng cơm chay). Tôi yêu những câu thơ vừa hiện đại vừa cổ điển của Lãng Thanh viết về nàng 21 tuổi. Thi sĩ van nài nàng đừng thêm một giọt đẹp nào vào ly đời nữa, sợ ly tràn nước, trôi dạt mất tình yêu: ”Hai mươi mốt tuổi, em vừa đủ để xòe que diêm ra ngoài bóng tối / Nếu ly nước tràn em sẽ trôi dạt / Da em trắng như lụa bạch, đôi mắt màu mực nho / Em đến chiều nao cong như nguyệt” (Từ chiếc vỏ ốc biển đến thị trường chứng khoán). Chao ôi “Em vừa đủ để xòe que diêm ra ngoài bóng tối“ chừng như có đủ các yếu tố siêu thực, tượng trưng, hậu hiện đại... nhưng chẳng có chút dấu ấn nào của các trường phái kia dính vào câu thơ; nó là Lãng Thanh, là EM vừa xòe lửa thành diêm hay DIÊM vừa xòe em thành lửa, hay chính bóng tối xẹt lửa trời thi sĩ?
Que diêm thơ Lãng Thanh quẹt ngang bầu trời một tia chớp, rồi mất hút vào bóng tối, theo giọt nước tình yêu tràn ly số phận, đổ rồi không hốt lại được. Và em cong như nguyệt ơi, da trắng lụa bạch, mắt mực nho ơi, ly nước trời đã tràn, cuốn hết tâm hồn Lãng Thanh vào hố thẳm, để chúng ta qua mặt phẳng trang giấy “HOA”, còn có dịp ngó thấy chiều sâu vô bờ bến của chiếc ly không đáy vũ trụ đựng mối tình diêm sinh... Lãng Thanh chừng như mượn cây cọ hoang tưởng, phiêu lãng của Salvador Dali để vẽ nên gương mặt vĩnh cửu của người-đàn-bà-tình-yêu đang “phi” nước đại, mang anh về cõi khôn cùng: ”Khuôn mặt em phi như điên cuồng”. Gương mặt em - con ngựa siêu thực phi qua cuộc tình, hay cuộc tình hư ảo được phi bằng chính gương mặt hiện thực em?
Câu thơ lạ đến mức tôi phải ngừng đọc, để chiêm ngưỡng vẻ mặt đẹp vượt qua mọi kích thước, đang vút đi mười ngựa không kéo lại nổi, tung hết vó điên - cuồng - em. Lãng Thanh tả mắt người đàn bà anh yêu cực lạ, đôi mắt như đôi cá con bơi trong hồ tình, có thể chìm nghỉm trên cạn, lặn ngụp tung tăng trong trò chơi trai gái: ”Đôi mắt em vừa ngoi lên sau một hơi ngụp lặn dưới hồ”. Xin một giọt mực đêm rơi xuống vết khỏa thân của chiếc áo dài trắng, cho gương mặt em đang “phi” hơn mọi loài ngựa trên đời, mở ra thế giới “NỤ” lời tỏ tình “HOA”: ”Đêm xuống như một giọt mực rơi / Chiếc áo dài trắng em đang mặc đính nhiều dấu vết khỏa thân... / ...Mặt hồ cứng đờ như giấy báo cũ nhăn nheo / Những con sóng nở nang, vuông góc / Tôi chia tay em để chấm dứt một mưu đồ “ (Mùa thu).
Lãng Thanh chia tay em để về chết với mùa thu: ”Lá thu! Như lãng quên hiện về đỏ sẫm“. Thơ phải chăng cũng chính là những “lãng quên hiện về đỏ sẫm”? Phải yêu mùa thu lắm, thương cảm với những gì bị lãng quên lắm, nhà thơ mới viết được câu thơ như máu khắc vào thu. Mùa thu trần trụi của thơ anh khác với thơ xưa thường thưởng thu theo kiểu đài các. Thu Lãng Thanh là thu của đời thường, hoa cỏ toát mồ hôi, thu của chân lấm tay bùn ủ trong bụi, phân và đất: ”Nhạc reo xa thoáng lạnh từng chân tóc / Cỏ thu xa vuốt ve đôi mắt đẹp / Chiều có thể nghiêng, mưa có thể buông, đá có thể khóc... /... Nhổ khóm hoa vàng để mà được vục vào với bụi, với phân, với đất / Gió ợ mùi chua, tình đã dậy men, đất hình như mặn / Bông hoa thả chân trong bình cổ / Một chiếc lá đỏ mặt, một chiếc lá lên gân” (Mùa thu). Anh không chỉ yêu mùa thu mà còn mê mùa hạ, nên đã nhìn thấy mùa hạ chết để linh hồn lại trong lá sen tàn, rực cháy thành bông hoa thu: ”Lá sen tàn là hoa nở đầu thu“. Tản Đà xưa cuối hạ, chỉ nhìn thấy lá sen chết héo mà thương: ”Lá sen tàn tạ trong đầm”. Nay Lãng Thanh nhìn lá sen chết hóa vàng phục sinh, thành bông hoa thẫm đỏ. Tưởng lá sen chết mà lại sống, tưởng tàn tạ mà lá lại hoá son tươi, nồng nàn một kiếp hoa khác. Đó chính là cái nhìn xuyên qua mọi sự chết, phủ nhận mọi tàn úa, biến tắt lịm thành lóe sáng, biến cái hữu hạn thành vô hạn của Lãng Thanh. Nhà thơ là con thiêu thân của cái đẹp, cái hằng sống. Anh như cánh kiến hoa vàng mê mẩn giữa xanh xao, yếu đuối, trần trọi cuộc đời: ”Cánh kiến cánh mỏng như vàng quỳ / Đẹp và xanh xao, xanh xao vì đẹp, yếu đuối vì đẹp, trần trọi vì đẹp”. Anh còn biết đưa cái nhìn xuyên qua bụng cá: ”Cá quẫy trong bụng cá, cá chết trong bụng cá, cá đẹp trong bụng cá” để tìm kiếm đường bơi cho thi ca không chỉ trên mặt giấy.
Lãng Thanh yêu quê mình đắm đuối. Anh càng yêu hơn nét thiên nhiên cô quạnh, thương cái hoang vỡ đời này bằng những câu thơ chen lẫn hội họa và điêu khắc: ”Tôi đã yêu những mảnh trăng nằm lạnh đáy sông / Yêu ánh xà cừ cựa mình trên giấy điệp / Những lăng tẩm ngả nghiêng đền đài hoang vỡ / Mảnh gương đồng soi nửa mặt người; gốc gỗ lũa nham nhở kỳ dị / Bức tranh cổ rã bong tàn tạ, vài mảnh ghép ngây ngô / Và chiếc lông chim rơi chậm hơn những giọt mưa thánh thót“ (Những mảnh vỡ). Anh mượn cánh cò trắng làm chiếc dao, bổ đôi bầu trời như bổ một trái cam tặng cha mẹ, ông bà: ”Cánh cò trắng muốt cắt đôi bầu trời / Bầu trời bên trái che xuống mộ ông bà / Bầu trời bên phải kéo cha mẹ trở về ruộng đất quê tôi “( Những mảnh vỡ). Tôi yêu cái cách “chạy vùng vằng” của Lãng Thanh trên đồng đất trung du, một lối chạy rất mới, chân như vừa chạy vừa đôi co, cãi vã, làm lành với đất: ”Tôi chạy vùng vằng quanh cánh đồng nứt nẻ quê tôi / Rón qua những con mương đục như bát đất / Những ô cửa méo xệch như sắp rơi“ (Những mảnh vỡ). Chao ôi là “Những ô cửa méo xệch” của quê hương thực sự đã rơi vào thơ Lãng Thanh, đặng nhờ người đọc chở che, an ủi, nâng đỡ. “Những ô cửa méo xệch “ vì bị gió bấc quất hay bị thời gian phụ tình, bị chính ngôi nhà bỏ rơi? Tôi đã từng nhìn thấy bao nhiêu ô cửa trên mặt người méo xệch đớn đau, mà sao chỉ đến khi đọc những câu thơ này của Lãng Thanh, mới biết thi ca ít khi sống sau những cửa sổ đầy đặn.
Tình yêu quê hương trong thơ Lãng Thanh không hề dễ dãi, yêu đến nghẹn cả lòng, thắt cả ruột, yêu mà như khóc khi anh viết về tuổi thơ mình và tuổi thơ của những đứa con anh (giả tưởng) sắp được ra đời từ một mối tình gai góc: ”Có thể bây giờ nhưng cũng rất xa xưa / nhiều đứa trẻ mồ côi / -những đứa trẻ hồn nhiên - vừa ĐẸP vừa ĐÓI” (Thơ trước tuổi 21). Lãng Thanh ơi, anh từng là một “đứa trẻ hồn nhiên vừa ĐẸP vừa ĐÓI”, nay lại muốn kết nạp thêm những người yêu thơ anh vào hội này nữa sao?
Chúng ta đến thế giới để tìm cái ĐẸP hay để lấp đầy cơn ĐÓI - vực thẳm không đáy loài người luôn ngó xuống hoài nghi bản thân mình? Chúng ta đổ đầy cả thế giới vào dạ dày mà không hết đói: đói trí tuệ, đói tâm hồn, đói nhau, đói cơn đói kẻ khác, đói thiên đường và địa ngục. Và hãy xem nhà thơ, kẻ chết đói tình yêu viết về cơn đói khát được xẻ chia sự bất hạnh của kẻ khác, dù kẻ đó xa lạ như nắng, như mây, như khói: ”Nhà có người con gái đi mãi không về / Cửa gỗ nhỏ không mọc răng mà day day rứt rứt / Nắng ngang chừng, mây tới quãng, khói vừa hương“ ( Mùa thu). Tôi chợt nghĩ, cứ đà này, nhất định thi ca rồi sẽ làm cho “Cửa gỗ nhỏ” hằng “ray ray rứt rứt” đợi chờ cô gái về, sẽ biết cách mọc răng? Thơ vì thế biết dừng lại ở chỗ “... mây tới quãng, khói vừa hương” để nhường lối cho người đọc vào thi tứ.
Lãng Thanh từng bị ngòi bút mềm như gió quất roi, thậm chí bị hoa hồng đuổi đánh, phải chạy về nhà cầu cứu mẹ: ”Mẹ ơi! Ngòi bút của con mềm dịu như gió / Con phiêu lãng cùng non tận thủy / Nhưng những đóa hoa đánh con đau quá / Con trở về nhà băng vết máu đầy tay / Ngòi bút của con điên cuồng như gió“. Thơ như có giấu bùa ngải. Chữ nghĩa lồng lên cuồng dại như gương mặt hoa hồng phi “hỏa tiễn”, đuổi đánh tứa máu một hồn thơ. “Ngòi bút điên cuồng như gió”, “bông hoa đánh con đau quá” kia chừng như đã rước chàng thi sĩ về cõi khác không còn phải sợ hãi nỗi đớn đau? Lãng Thanh có thể đã bị giời xúi hay sao mà ưa viết những câu thơ tiên tri về sự ra đi vĩnh cửu của mình, những câu thơ bị đâm bằng nước mắt của bút điên, chữ cuồng: ”Buổi sớm mai trở dậy tim con mọc ở đằng Đông / Nét cuồng thảo vọt như máu, ngưng như lệ... /... Điên cuồng chữ bay, điên cuồng chữ bay, điên cuồng chữ bay”.
Người xưa bảo “thi trung hữu quỷ” quả không ngoa. Khi Lãng Thanh viết những câu thơ này “Sông chảy dài như oan hồn”, hay “Phất phơ thu già lúa nghẹn đòng / Cắt ruột cho lòng thiếp xanh“ hoặc “-Tấm ơi! Chị mò cua tay mọc đầy hoa, chị là yêu tinh / Quả thị dựng tóc. Ay dà, miệng nhỏ xinh xinh“... thì quả là thơ anh có con ma... rình trong chữ nghĩa thật. Lãng Thanh còn nhiều câu thơ hay khác, nằm cô đơn giữa các trang giấy, ví dụ như: ”Nước mắt hung dữ như một viên đạn bắn trượt”, “Hai mặt người lăn tròn vào nhau như hai bánh răng”, “Lá rơi vì gió sao lá rơi vào giếng”, “Ngôi nhà lạnh toát như một thứ vũ khí / Đi trên đường như bước giữa hai họng súng”, “Sốt râm ran như tiếng hát tương tư “, “Thõng đôi tay khô chết như nhân sâm“, “Mẹ đang choàng chiếc khăn mười sáu tuổi“... Thơ Lãng Thanh vừa lạ, vừa hay.
Có thể nói, “Hoa” là một tập thơ hay trên tổng thể. Tuy nhiên, nó vẫn còn những câu kém, một số bài trung bình, thậm chí dở. Cái phần tinh túy của tập di cảo thơ này chính là sự vượt lên của Lãng Thanh so với một số bạn thơ trẻ cùng lứa khác. Dù vài ba nhà thơ trẻ nào đó được một số đàn anh cực đoan cho là hiện đại, được “lăng xê” với những mục đích khác nhau, thậm chí đôi khi với những dụng ý ngoài văn học, thì họ vẫn rất khó “đứng” một mình, đi đâu cũng phải vịn vào cây gậy “thổi phồng” kia. Thực ra, thơ họ có thể lạ, thậm chí xin bái phục vì họ đã học được phép đuổi sạch trơn sự hiểu và cảm xúc ra ngoài thơ; nhưng phần hồn của thơ là truyền cảm, là hay thì vài ba quý vị tân thời kia chừng như chưa đạt tới.
Khi một nhóm thơ trẻ - cách tân nào đó đang khủng hoảng, tắc tị, đưa thơ vào chốn sơn cùng thủy tận, thậm chí tục tĩu, thì may mắn thay, Lãng Thanh đột ngột từ cõi chết hiện về, tặng chúng ta một bó “HOA” thơ đích thực. Khi sống, Lãng Thanh gần như vô danh, như anh viết về mình rất “gở”: ”Lặng lẽ đi đến một ngôi mộ cũ - cô đơn / Không có tình yêu, không danh vọng”. Sau khi anh chết, nhóm thơ Chí Tâm bạn bè đã đưa một phần di cảo thơ anh đến với NXB Thanh Niên; biến anh thành người của công chúng. Thơ anh hiện đại mà cổ điển, lạ mà dễ hiểu, hài hòa CẢM và NHẬN, ví như trong bài thơ “Mắt mẹ rợn da trời” tả bà mẹ ngồi nhìn đứa con vừa chết: ”Ánh mắt người mẹ nhìn con / Sừng sững và cổ thụ / Ánh mắt trải rộng một niềm thương da diết đến mức bầu trời có thể mọc lông tơ như mênh mông một tấm da người“.
Lãng Thanh ơi, cảm ơn anh đã trải lên cao xanh đầu tôi “mênh mông một tấm da người” là bầu trời hài nhi đang lấm tấm mọc lông tơ! Đấy là món quà quý giá nhất anh trối lại, tặng những người yêu thơ anh, như một thông điệp: hãy ngó xuống trang thơ để tìm cách ngước lên bầu trời.

Thành phố Hồ Chí Minh 15-6-2003
Trần Mạnh Hảo

Thơ- phận Đào




Phận Đào
Làm sao nối được nhịp cầu ?
Cho chàng với thiếp trọn câu đá vàng.
Khắc sâu thề ước đa mang !
Lỡ chuyến đò nhỡ -lỡ tan chợ chiều.

Đò trôi lặng lẽ buồn thiu...
Bóng người xa khuất tiêu điều mặt sông .
Một thương -hai nhớ -ba trông.
Thôi ta gói lại dặn lòng đành quên.

Chiều nay ngắm nước triều lên,
Lục bình rẻ sóng ,lềnh bềnh về đâu ?
Giang đầu giang cuối xa nhau,
trái lòng quá đắng ruột đau nhũn mềm.

Còn duyên trói chặt tình bền,
hết duyên đưa đẩy -tênh hênh phận đào .

mưa phố núi

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2012 ( Kỳ 118)

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ
1.181 - Brian Cleaver
CỰU BINH ÚC ĐI TÌM HÀI CỐT BỘ ĐỘI
Cựu binh Úc về hưu. Sống ở Uc (2012).

Năm 1968 là lính viễn chinh Úc đóng quân ở Bình Dương sau một trận đụng độ với bộ đội VN đã tận mắt chứng kiến 42 thi hài quân địch để lại sau đó được đơn vị Úc chôn dưới một hố bom trong địa phận xã Bình Mỹ.
Sau đó theo quân Úc rút về nước.

Đến năm 2002 cùng đồng đội John Bryant trở lại địa điểm cũ với mục đích truy tìm ngôi mộ bộ đội tập thể đó để tìm cách báo lại cho thân nhân của họ biết. Tự bỏ tiền túi trang trải mọi chi phí, có được các đồng đội cũ hỗ trợ chút ít.

Nhưng dù mang theo các tư liệu ghi chép còn lại (có cả ảnh chụp hồi đó nữa) nhưng qua 10 năm đã 8 lần đến Bình Dương vẫn chưa tìm được tung tích nấm mồ đó do thời gian qua khung cảnh nơi đây thay đổi quá nhiều. Đã tiến hành đào xới 5 hecta trong khu vực song ngẫu nhiên chỉ khai quật được một nấm mộ bộ đội thì lại không thuôc số 42 người kia.

Thay vào đó nhờ sự hợp tác của địa phương và đơn vị quân đội phụ trách công tác liệt sĩ đã tìm ra được thân nhân của 33 bộ đội trong số người tử trận.

Công việc tìm kiếm đến nay vẫn còn tiếp tục với 2 cựu binh nước ngoài vì “Nếu tôi là một trong những người lính mất tích đó thì tôi cũng hy vọng có ai đó sẽ tìm kiếm hài cốt mình. Việc tôi làm sẽ giúp những người đã hy sinh có thể sống một đời sống khác ở đó họ được sống trong hòa bình chứ không phải sống với súng đạn và mồ chôn tập thể.”

1.182 - Hạ Đình Nguyên
TÙ 2 CHẾ ĐỘ
Doanh nhân sinh khoảng 1948. Sống ở TPHCM (2012).


Thời chống Mỹ là sinh viên ĐH Văn khoa Sài Gòn khoa Triết tham gia phong trào sinh viên học sinh xuống đường biểu tình phản đối chế độ Thiệu – Kỳ theo Mỹ, được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Tranh đấu của sinh viên Sài Gòn. Vì vậy nhiều lần bị cảnh sát bắt giam.

Từ đó sau 1975 làm việc trong Thành đoàn TPHCM rồi được chuyển công tác qua làm phó giám đốc một công ty đầu tư thương mại khi Miền Nam bắt đầu chuyển đổi cơ chế kinh tế đổi mới làm ăn thoáng hơn.
Nhưng không hiểu vì lý do gì một thời gian sau lại… bị bắt đưa ra tòa lãnh án tù vì tội kinh doanh phạm luật bất hợp pháp! Có dư luận cho đó là vì cung cách làm ăn “xé rào” kiểu mới của Miền Nam chưa được Miền Bắc chấp nhận hoàn toàn nên dựa vào cơ chế cũ để kết án! Đồng thời cũng có ý kiến do mâu thuẫn nội bộ trong cơ quan đấu đá lẫn nhau (?).

Sau khi ở tù về vẫn được Thành đoàn chiếu cố đưa đi làm giám đốc một trung tâm cai nghiện thanh thiếu niên. Từ đó có kinh nghiệm tách ra lập công ty tư nhân chuyên làm việc này gặp thời sống khỏe.
Song song đó rất hăng hái cổ vũ việc xuống đường phản đối Trung Quốc âm mưu xâm lấn VN giống như thời Mỹ – Ngụy đi biểu tình chống Mỹ. Nhưng bây giờ thời thế đã đổi khác rồi, chuyện đó lại bị chính quyền hiện hành… không cho phép!

1.183 - Mã Tuyên
TỘI CHÍNH TRỊ HỌA VÔ ĐƠN CHÍ KÉO DÀI
Doanh nhân gốc Hoa sống ở Sài Gòn – Mất 1994 tại TPHCM.

Đây chính là ân nhân của anh em cố Tổng thống Ngô Đình Diệm trong cuộc đảo chính năm 1963 dẫn đến cái chết thảm của 2 anh em nhà họ Ngô.
Nguyên là một cộng tác viên đắc lực của Cố vấn Ngô Đình Nhu em tổng thống. Có thông tin nói nhà đương sự là nơi đuợc NĐ Nhu đặt làm trung tâm liên lạc với Mặt trận Giải phóng Miền Nam chuẩn bị cho giải pháp khi cần có thể “bắt tay” hợp tác nhằm thoát khỏi ảnh hưởng khống chế của Mỹ.
Trong biến cố tướng Dương văn Minh cầm đầu phe đảo chính lật đổ NĐ Diệm năm 1963, anh em tổng thống đã bí mật theo đường hầm thoát ra khỏi dinh Độc Lập đến tá túc tại nhà Mã Tuyên một đêm để sáng hôm sau được đương sự cho tài xế lái xe đưa đến điểm thương lượng với nhóm đảo chính (nhưng kết quả cả 2 anh em bị giết chết tại chỗ kiểu “nhổ cỏ nhổ tận gốc” một cách dã man).
Từ đó đương sự liên lụy bị phe đảo chính bắt giam 3 năm và tịch thu tài sản. Mãn hạn tù trở về làm ăn bình thường như xưa.
Nhưng đến khi Cách mạng vào lại bị bắt giữ 4 tháng rồi thả ra. Tuy nhiên tiếp đó bị… bắt lại, lần này giam đến 4 năm ở nhà tù Chí Hòa, nhà cửa bị tịch thu hết.
Sau khi được thả ra, năm 1983 cùng gia đình (3 vợ 13 con) được phép xuất cảnh trở về quê quán định cư ở Đài Loan.
Dù vậy, năm 1992 lại quay lại Chợ Lớn sống nốt quảng đời còn lại với bạn bè cũ. Trước khi mất còn căn dặn kỹ phải chôn trong khu nghĩa trang “Nhị tì Triều Châu” của người Hoa ở Biên Hòa dể vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất quê hương thứ hai dù nơi đây đã mấy lần đày đọa mình quá oan!

1.184 - Trần Thái Đỉnh
LÝ THUYẾT GIA TRIẾT HỌC HIỆN SINH
Giáo sư đại học sinh 1922 tại Hưng Yên – Mất 2005 ở TPHCM (84 tuổi).
Xuất thân tu sĩ Thiên Chúa giáo được Giáo hội cử đi du học Pháp từ năm 1953 về thần học và triết học.
Nhưng khi làm luận án tiến sĩ lại chọn đề tài về Phật giáo. Và tốt nghiệp tiến sĩ 1958 về nước đi dạy triết học ở ĐH Đà Lạt, Huế và Sài Gòn lại trở thành người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa hiện sinh vào VN. Còn viết báo phổ biến tư tưởng này trên tạp chí Bách Khoa ký Trần Hương Tử.

Từ giáo trình dạy đại học in thành nhiều sách giáo khoa lẫn chuyên luận triết học phương Tây có giá trị tiên phong thời đó như các cuốn về triết học hiện sinh, Descartes, Kant, cơ cấu luận…
Sau 1975 vẫn được giữ lại dạy đại học nhưng chuyển qua môn Pháp văn.
Cởi áo dòng lấy vợ bán hàng tạp hóa, sinh được 3 con trai (có con thứ ba đi tu). Còn làm thêm tham gia đánh đàn phong cầm ở nhà thờ và dịch tài liệu đạo Thiên Chúa.
Mắc bệnh ung thư kéo dài 5 năm mới mất.
Một số tác phẩm đã được chế độ mới in lại từ năm 2006 như “Triết học Descartes”, “Triết học Kant”…

1.185 - Trần Thành Trai
CHUYÊN GIA MỔ TÁCH ĐÔI TRẺ SONG SINH
Bác sĩ sinh 1938 tại Tiền Giang. Sống ở TPHCM (2012).


Thiếu tá bác sĩ quân y VNCH sau Giải phóng đương nhiên đi cải tạo 3 năm.
Ra trại cuối năm 1078 về lại TPHCM được nhận ngay vào làm bác sĩ khoa ngoại ở Bệnh viện Nhi đồng 1. Từ đó gắn bó với bệnh viện, bệnh nhi dù trong thời điểm đó đang rộ lên phong trào vượt biên trong đó bác sĩ chiếm số lượng đông trong giới trí thức.

Đã có nhiều thành tựu chuyên môn đáng kể trong việc điều trị bệnh nhi như về phương pháp phẫu thuật chỉnh hình hở hàm ếch cho các em, đặc biệt về các ca mổ tách trẻ sinh đôi qua các ca Song – Pha, Đào – Điệp, Việt – Đức (cùng mổ với bác sĩ Trần Đông A cũng cựu sĩ quan quân y VNCH).
Được bầu vào Quốc hội khóa 11.
Dù ở bất cứ cương vị nào vẫn làm việc với tinh thần cống hiến khiêm tốn: “Tôi chỉ như một ngôi sao vụt sáng trên bầu trời y học rồi chìm vào cái mênh mông của vũ trụ. Tôi thấy thật thanh thản với chặng đường đã qua.”

1.186 - Trần Thị Bé
“ĐỜI CÁT”
Lao động nghèo khuyết tật sinh 1969 tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2012).
Năm 1972 chạy nạn chiến tranh vào trại tạm cư.
Một hôm cả gia đình đang ngồi ăn cơm bị một trái lựu đạn ném vào nổ tung làm mẹ và 5 anh chị em chết tại chỗ, cha bị thương nặng. Còn mình mới 3 tuổi bị cụt 2 chân.

Sau chiến tranh cùng cha trở về nhà cũ ở thị trấn Đông Hà dựng lại mái nhà tranh rách nát tá túc qua ngày giữa vùng đồi cát chập chùng xứ gió Lào nắng rát.

Học tiểu học được cha cõng đến trường, lớn lên nghỉ học ở nhà tìm cách kiếm sống quá vất vả do làm gì hay đi đâu cũng chỉ nhờ 2 tay lết đi. Nhiều khi quá chán nản muốn tự tử chết cho xong song lại thương cha già nên thôi không đành: “Tôi tuổi con gà. Gà chỉ nhờ 2 chân để kiếm ăn, vậy mà con gà tôi mất cả 2 chân!”
Năm 1990 lúc 18 tuổi được giúp đỡ lắp cho chân giả nhưng đi không quen mà còn dễ gây đau nhức (do một số mảnh đạn vẫn còn nằm sâu trong vết thương) nên vẫn thường lết đi như cũ nhanh và thuận tiện hơn.
Năm 1992 bố đi lấy vợ khác nên chỉ còn lại một mình tự lo liệu mọi việc.

Đến năm 1994 được một nhà từ thiện người Bỉ đưa đi mổ, gắp hết các mảnh đạn ra rồi lắp cho chân giả khác loại tốt hơn. Tuy vậy vẫn đi đứng nặng nề, chậm chạp.
Sống bằng nghề khập khiễng đi bán gia vị ở chợ ngày no ngày đói thất thường,
Ngẫu nhiên năm 1999 đạo diễn Nguyễn Thanh Vân từ Hà Nội về nơi đây quay bộ phim truyện nhựa “Đời cát” (kịch bản Hữu Phương – Nguyễn Quang Lập, diễn viên Công Ninh, Mai Hoa) về đề tài thời hậu chiến xảy ra trên vùng đất này trong đó có một nữ nhân vật… giống hệt đương sự cũng cụt 2 chân sống đời nghèo khổ cô đơn giữa trũng cát bao la mịt mù. Gặp được nhân vật đó ngoài đời quá tốt, thế là bản thân trở thành… diễn viên điện ảnh bất đắc dĩ, được mời vào đóng vai y như cuộc đời thực của mình!
Chỉ năm sau phim đoạt Giải thưởng Điện ảnh VN 2001.

Nhờ đó được nhiều người biết đến, cảm thương số phận bất hạnh hẩm hiu nên góp sức giúp đỡ cho cuộc sống dễ thở hơn. Còn được tổ chức từ thiện quốc tế hỗ trợ người khuyết tật cho đi một chuyến tham quan nước ngoài đến Luxembourg.
Nhưng qua “kinh nghiệm” đóng phim rút ra bài học quý báu nhất từ đó đã nảy ra ao ước như nhân vật nữ trong phim là có… một đứa con để an ủi tuổi già. Thế là quyết tâm xin một đưa con nuôi: “Cần nhất là một đứa con để trông cậy lúc tuổi già và đó cũng là nghị lực giúp tôi sống”.
Đứa con gái đặt tên là Phong An nghĩa là cầu cho “ngọn gió an bình” thổi đến đời con thay vì bao phong ba bão táp đã quất vào đời mẹ.
Rồi xin thêm một đứa con trai nữa cho “đủ nếp đủ tẻ” với niềm hy vọng: “Đời con sẽ không là đời cát, lăn lóc qua gió bụi trần ai như mẹ.”
Để nuôi con, mở quán bán nước. Từ đó niềm vui sống được nâng lên, còn tích cực tham gia thi đấu thể thao người khuyết tật giành được nhiều huy chương đua xe lăn, ném lao, ném đĩa, đẩy tạ…

1.187 - Trần Thị Cẩm Giang
MÁI ẤM THIỆN DUYÊN
Cán bộ về hưu sinh 1938 tại Sài Gòn. Sống ở TPHCM (2012).

Sinh ra trên đất Củ Chi vách thép thành đồng nên từ năm 14 tuổi đã tham gia họat động Cộng sản, làm giao liên, thanh vận rồi Hoa vận. Đã mấy lần bị địch bắt giam tra tấn vẫn giữ được ý chí kiên cường không khai báo.

Sau ngày Giải phóng, được cho đi học rồi về làm cán bộ phường.

Thời gian này có dịp chứng kiến thảm cảnh nhiều em bé mồ côi chịu di chứng CĐDC quá tội nghiệp nên mới nhận vài em về nhà nuôi. Không ngờ nuôi trẻ rất “mát tay” nên được nhiều gia đình quen biết có con mắc bệnh tương tự tỏ ý muốn nhờ nuôi giùm.

Nhưng phải chờ đến lúc về hưu mới có thì giờ làm chuyện này. Khi đó liền quyết đinh bán căn nhà được cấp ở thành phố lấy tiền về quê Củ Chi xây một khu nhà trên đất hương hỏa biến nó thành một cơ sở chuyên nuôi trẻ em nhiễm CĐDC, khuyết tật, bại não, tâm thần đặt tên là “Mái ấm Thiện Duyên”. Bà con đều kính phục gọi là “Má Mười”.

Đến năm 2007 nơi đây đã có hơn 120 em như vậy được Má Mười nuôi dưỡng. Để có tiền lo cho các cháu, má phải làm thêm tương hột, muối tiêu đem đi bỏ mối đồng thời còn nuôi heo gà, trồng nấm bào ngư đem ra chợ bán.

Được cái là nhiều mạnh thường quân khắp nơi nghe tiếng đã tìm đến ủng hộ, giúp đỡ một tay…

1.188 - Trần Thị Hiền
“HIỀN 58”
Lao động nghèo sinh tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở Thừa Thiên – Huế (2011).

Lúc 15 tuổi đã đi du kích đánh Mỹ rồi chuyển qua bộ đội trên chiến trường Bình Trị Thiên.

Năm 1973 trong khi làm công tác vận chuyển lương thực đã bị trúng bom bi máy bay Mỹ thả. Bị vùi xuống hố đất, đồng đội tưởng chết rồi may mà còn nòng súng nhô lên khỏi mặt đất có người nhìn thấy mới đào đất lên cứu sống kịp thời.

Nhưng đưa vào bệnh viện chỉ cứu chữa tạm chứ không có đủ phương tiện để mổ lấy hết vô số mảnh bom còn nằm sâu trong cơ thể. Tính ra còn đến… 58 mảnh bom như vậy, nguy hiểm nhất là 2 mảnh ghim trong phổi, 2 mảnh chui vào tâm mạc tim và 11 mảnh khác rải rác trong đầu.

Sau chiến tranh, xuất ngũ thương binh nặng về làng (thị xã Hương Trà) lấy chồng là bộ đội trinh sát mất sức sinh được 6 con. Cả nhà sống bám vào một sào ruộng mà tiền trợ cấp chẳng bao nhiêu không kham nổi cơn lốc đời sống thời hậu chiến bao cấp nên con cái đều mù chữ, nhà cửa rách nát xập xệ.
Đã vậy, bản thân còn bị 58 mảnh bom “lưu tồn” hễ gặp trái gió trở trời là gây đau đớn toàn thân, đầu óc nhức như búa bổ, muốn đi bệnh viện mổ gắp ra thì biết lấy đâu ra tiền nộp viện phí? Bởi vậy đành chấp nhận sống chung với… mảnh bom Mỹ, từ đó nổi danh là bà “Hiền 58”!
Chưa hết, năm 2011 đứa con trai út bị phát hiện bệnh suy thận cấp, chở vào Huế chữa trị chỉ còn cách đi chạy thận mỗi tuần 3 lần, mỗi lần tốn hơn 3 triệu đồng. Muốn giải phẫu thì phải 300 triệu.

Chỉ lo tiền chạy thận cho con còn không nổi, chạy đôn chạy đáo mượn nợ khắp nơi riết rồi không ai dám cho vay nữa bởi biết lấy gì mà trả nổi. Đó là món nợ kéo dài lây lất từ thời chiến tranh qua đến thời hậu chiến mà ít ai có thể trả nổi.

1.189 - Trần Thị Thuấn
30 NĂM GẶP LẠI CHỒNG SỐNG CŨNG NHƯ CHẾT
Cán bộ về hưu sinh 1931 tại Quảng Ngãi. Sống ở TPHCM (2007).
Tham gia Cách mạng từ thời chống Pháp.
Năm 1947 lập gia đình với một bộ đội cùng quê. Đến đầu năm 1948 chồng nhận nhiệm vụ qua chiến trường Lào rồi từ đó mất liên lạc luôn.
Sau 1954 vẫn còn ở quê Quảng Ngãi tiếp tục hoạt động quân báo cho Cộng sản, nuôi giấu cán bộ trong vùng địch. Đến 1965 được lệnh mở rộng mạng lưới hoạt động nằm vùng, làm giao liên qua tỉnh Quảng Nam.
Sau ngày Giải phóng tiếp tục nhận nhiệm vụ mới ở quê nhà, hết lòng trông ngóng tin chồng song vẫn không một tăm hơi.
Bất ngờ tháng 6.1976 mới được người báo tin cho biết chồng đang bị thương nặng nằm viện quân y tại TPHCM. Bấy giờ mới hay sau 1954 chồng được điều từ Lào về hoạt động trên Tây Nguyên rồi cuối năm 1968 về lại Hà Nội, sau đó đưa lên Việt Bắc. Qua tháng 3.1975 được bổ sung vào chiến trường Miền Nam nhưng trên đường tiến vào Sài Gòn xe gặp tai nạn khiến bị thương trầm trọng đã đưa vào bệnh viện quân y.
Bản thân nghe tin như sét đánh ngang tai vội vào TPHCM gặp lại chồng đang nằm viện trong tình trạng hôn mê bất tỉnh do bị chấn thương sọ não quá nặng. Liền xin cơ quan cho chuyển công tác vào bệnh viện trong này để tiện việc chăm sóc cho chồng.
Nhưng cả một năm dài chăm bệnh cho chồng mà chồng vẫn không lai tỉnh, chỉ nằm liệt một chỗ nhìn vợ lặng lẽ mà không nói năng được tiếng nào! Đúng một năm sau thì ra đi, không lời trăn trối từ giã.
Đã vậy không hiểu sao chồng không được làm thủ tục chứng nhận liệt sĩ, không được hưởng bất cứ chính sách, chế độ nào qua hơn 31 năm nay. Có lẽ vào thời điểm giờ chót cuộc chiến tranh, ông đã bị “bỏ quên” bên lề lịch sử (đồng đội chỉ kịp đưa vào viện rồi phải nhanh chân theo đoàn quân tiến vào Sài Gòn)!
Nỗi buồn mất chồng còn cộng thêm nỗi buồn thế sự càng chất nặng trên đôi vai còm cõi của người vợ già đã bỏ cả gần hết cuộc đời cống hiến cho lý tưởng.

1.190 - Trần Tôn Trung Sơn
NGƯỜI KHÔNG TAY HỌC HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ MIT
Sinh viên sinh 1991 tại Quảng Trị. Du học Mỹ (2009).
Sinh ra bên dòng Bến Hải, được cha đặt tên Trung Sơn để ghi nhớ tên xã quê hương thuộc huyện Gio Linh.
Cha là bộ đội trên chiến trường Lào bị nhiễm CĐDC nên khi con mới ra đời đã chịu cảnh khuyết tật nặng gần như không có 2 cánh tay: Cánh tay trái chỉ có mỗi… bàn tay lại… mọc sát nách, còn cánh tay phải chỉ ngắn đến khuỷu tay với bàn tay chỉ có 2 ngón tay.
Vì thế năm 1992 cha mẹ phải xin đưa vào Làng Từ Dũ ở TPHCM chuyên nuôi dưỡng trẻ em nạn nhân CĐDC. Còn cha mẹ ra ngoài đi làm thuê, tối ngủ công viên để còn có điều kiện thỉnh thoảng đi thăm con.
Dù vậy vẫn nỗ lực học hành rất giỏi. Lớp 5 là học sinh giỏi toàn thành môn toán và tiếng Việt, thi vào trường THPT ở quận Tân Bình đậu thủ khoa, lên cấp trung học là học sinh giỏi toán, văn, Anh văn. Còn học cả võ taekwondo đạt đai nhất đẳng.
Vào đại học ngành công nghệ thông tin TPHCM vừa đi học vừa làm công ty phần mềm.
Năm 2009 được học bổng đi học Học viện Công nghệ MIT nổi tiếng ở Mỹ chuyên ngành trí tuệ nhân tạo là ngành tiên tiến hiện đại nhất mà VN còn hiếm chuyên viên. Hy vọng trí tuệ nhân tạo sẽ thay cho 2 cánh tay mất mát.
(Còn tiếp)

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

Về Đâu Mái Tóc Người Thương (Yêu Làn Tóc Ấy) Tác giả: Hoài Linh

         
                             alt
Hồn lỡ sa vào đôi mắt em
Chiều nao xõa tóc ngồi bên rèm
Thầm ước nhưng nào đâu dám nói
Khép tâm tư lại thôi
Đường hoa vẫn chưa mở lối


Đời lắm phong trần tay trắng tay
Trời đông ngại gió lùa vai gầy
Lầu kín trăng về không lối chiếu
Gác cao ngăn niềm yêu
Thì thôi mơ ước chi nhiều


Bên nhau sao tình xa vạn lý cách biệt mấy sơn khê
Ngày đi mắt em xanh biển sâu, mắt tôi rưng rưng sầu
Lặng nghe tiếng pháo tiễn ai qua cầu


Đường phố muôn màu sao thiếu em
Về đâu làn tóc xõa bên rèm
Lầu vắng không người song khép kín
Nhớ em tôi gọi tên, chỉ nghe lá rơi bên thềm./.
alt

VỀ KHẨU HIỆU "TIÊN HỌC LỄ HẬU HỌC VĂN "- LẠI NGUYÊN ÂN

VỀ KHẨU HIỆU “TIÊN HỌC LỄ HẬU HỌC VĂN”
Thế hệ tôi, sinh trưởng ở miền Bắc, đi học trường phổ thông 10 năm (từ lớp 1 đến lớp 10) vào những năm 1954-1964, thì khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” hầu như không để lại ký ức gì. Là vì ở miền Bắc thời đó, những gì được xem như gắn với “tư tưởng phong kiến” đều bị coi là lạc hậu, cần tránh xa, cần chống lại; mà “tiên học lễ hậu học văn” thì rõ ràng là tư tưởng Nho giáo, là thuộc hệ tư tưởng phong kiến rồi! Cho nên dễ hiểu là không hề thấy khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” xuất hiện trong khuôn viên bất cứ ngôi trường nào trên miền Bắc thời gian ấy; cũng hầu như không có giáo viên hay cán bộ nào trong ngành giáo dục thời ấy dám nói đến khẩu hiệu đó trước các đám đông. Tôi cũng chưa đọc thấy trong hồi ức những người lớn lên và đi học tiểu học, trung học ở miền Nam vào quãng thời gian ấy nói rằng khẩu hiệu kể trên có ghi đâu đó trong khuôn viên các ngôi trường.

Tất nhiên, đừng nghĩ rằng vì khẩu hiệu đó không “hiển thị” trong cộng đồng thì tư tưởng ngụ trong khẩu hiệu ấy không chi phối tâm thức người dạy, người học, và nói chung, tâm thức cộng đồng thời ấy.

Nhưng cần ghi nhận sự thực vừa kể về sự không hiện diện khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” trong khuôn viên trường học. Và đến sau tháng 4/1975, tình hình vừa nêu lại cũng phổ cập vào nhà trường từ vĩ tuyến 17 trở vào đến chót mũi Cà Mau.

Thế thì khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” đã “sống lại” trong ngành giáo dục Việt Nam từ bao giờ? Nó được thể hiện như ta thấy hiện nay trên rất nhiều (rất nhiều chứ không phải toàn bộ) khuôn viên các ngôi trường từ Bắc chí Nam là từ khi nào? Do ai? Do chủ trương của ngành giáo dục hay do “sáng kiến” tự động, tự phát của các trường?

Theo sự ghi nhận – như một dữ liệu nghiên cứu – của tác gia Trần Đình Hượu (1927-1995) thì vào năm 1973, nhà giáo Nguyễn Lân (1906-2003) viết bài “Có nên vận dụng phương châm “tiên học lễ hậu học văn” trong việc giáo dục thế hệ trẻ của ta ngày nay không?” (đăng tạp chí “Văn hóa nghệ thuật” ở Hà Nội, số 31, tháng 7/1973) mà động cơ viết bài này, theo lời của chính tác giả Nguyễn Lân, là do thực tế “một số trẻ em không ngoan, trong nhà thì bướng bỉnh với cha mẹ, ra đường thì hỗn láo với mọi người, đến trường thì xấc xược với thầy giáo” (trích bài báo đã dẫn). Ngay sau khi bài báo này xuất hiện, trên báo “Tiền phong” của T.Ư. Đoàn (số 2351, ra ngày 16/8/1973) có bài báo dài của tác giả Thanh Bình nhan đề “Quét sạch những tàn dư tệ hại của Khổng giáo”, với những kết luận chém đinh chặt sắt: “… chúng ta không thể dung hòa được với Khổng giáo cùng với hệ tư tưởng phản động và bảo thủ của nó”, … “chúng ta phải kiên trì đấu tranh để quét sạch nó ra khỏi mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như quét sạch những đống rác bẩn vậy”!

Tiếp theo bài này, báo “Tiền phong” còn định ra cả một loạt bài khác nữa để công kích sự đề xuất kể trên của nhà giáo Nguyễn Lân, nhưng thủ tướng Phạm Văn Đồng đã can thiệp dừng lại.[1]

[Những năm 1970, thái độ chính thống đối với Nho giáo nói chung và các tư tưởng của nó, ngoài việc duy trì định hướng “phản phong” vốn được đề ra từ trước, có lẽ còn được tăng cường do việc cảnh giác đề phòng “cách mạng văn hóa” qua của Hữu Nghị tràn vào đồng bằng sông Hồng!]

Trở lại câu hỏi: khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” xuất hiện trở lại trong ngành giáo dục từ khi nào? Thật chi tiết về việc này, nhất là khía cạnh “là chủ trương hay do tự phát” mà khẩu hiệu này được trương cao trên khuôn viên các ngôi trường? – thì cần có xác nhận của những người ghi sử ký ngành giáo dục (hiện ở ngành này bộ này có vị trí người ghi biên niên hay không?).

Đứng ngoài quan sát như tôi và phần đông bạn đọc, thì khẩu hiệu này có lẽ đã tái xuất hiện trong nhà trường Việt Nam từ những năm 1990. Mấy năm cao trào đổi mới có một số đề xuất cải cách giáo khoa, nhất là môn Văn, sao cho bớt khô cứng, chứ chưa nêu đến quan hệ thầy trò hay việc tăng trọng môn đức dục.

Phải tới những năm 1990, bước vào thời kinh tế thị trường ít lâu, thu nhập của dân cư mấy đô thị lớn khá lên, việc đầu tư cho sự học hành của con cái dần dần được chú trọng hơn, đương nhiên các bậc phụ huynh phải chú ý tới các thầy giáo cô giáo dạy dỗ con em mình. Chuyện dạy thêm học thêm diễn ra từ lâu, bất chấp sự ngăn trở hay khuyến khích, dần dần đã tạo ra một thị trường dạy học. Không ít giáo viên cải thiện được đời sống, tức là bù được phần lương quá nhỏ bé, bằng việc dạy thêm; lại có những ông thầy kiếm được tiền tỷ, mua nhà mua đất, sắm được tiện nghi đắt tiền, nhờ dạy thêm; đấy là sự thật; cũng như cái sự thật là ở từng vùng, các vị phụ huynh đều biết với mỗi môn nào thì có những thầy nào dạy giỏi, nên đưa con em đến học. Chính là lao động của những người thầy, bất luận trên giảng đường chính khóa hay trên các phòng dạy thêm, đã nâng giá trị người thầy trong cộng đồng, trước hết là trong con mắt những người có con em đang đi học. Ta cũng còn chưa thể kiểm chứng được giá trị của những thầy giỏi này, một khi cơ chế thi cử không còn nặng nề như bấy lâu nay.

Tất nhiên những phụ huynh thuộc loại nghèo hoặc hơi nghèo sẽ có lúc phải thấy “ghê răng” khi tính đến việc đưa con em mình tới học thêm ở những ông thầy được tiếng là giỏi nhất, nhiều học sinh đỗ đạt nhất, vì những mức giá học phí không hề thấp. Chính là tất cả những điều này, đặt trong kiểu thức học và thi hiện thời, đã nâng giá người thầy, cả khía cạnh dở lẫn khía cạnh hay.

Có thể nói, tâm lý coi trọng và đề cao người thầy và lao động dạy học chính là cơ sở tâm lý xã hội khiến cho khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” từ chỗ bị cấm đoán miệt thị trong “đêm dài bao cấp”, lại bỗng chốc được nêu cao trên khuôn viên các ngôi trường vẫn được những người quản lý nó mệnh danh là “nhà trường xã hội chủ nghĩa”.

Tất nhiên, như đã nói, điều đã khiến các ban quản trị nhà trường dùng đến khẩu hiệu trên, còn là những lo ngại về tình trạng được gọi là “xuống cấp” đạo đức xã hội có vẻ như biểu hiện ngày càng nặng và đáng báo động trong nhà trường, tuy rằng ban đầu người ta chỉ nhấn mạnh chuyện học trò hư, vô lễ, chứ rất khó khăn để ghi nhận các chuyện không hay trong giới giáo viên.

***
Thế nhưng có nên tiếp tục trương cao khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” cả trên khuôn viên các ngôi trường Việt Nam hiện nay cũng như trong lời nói hàng ngày hay không?

Tôi vẫn chưa quên cảm giác gì đó rất không thoải mái mỗi khi nhìn thấy khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” được sơn vẽ sao cho kích cỡ thật lớn, lại đặt ở vị trí đáng chú ý nhất, tại các ngôi trường Việt Nam.

Vì sao vậy? Vì nó lời lẽ bằng ngôn từ Hán Việt, không phải lời lẽ thuần Việt. Vì nó gắn với những thời kỳ rõ ràng là đã qua của giáo dục Việt Nam. Vì nó ngày càng bộc lộ yếu tố vay mượn ngoại lai mà cũng ngày càng rõ là không nên tiếp tục.

Nếu bảo ta vẫn có thể dùng “tiên học lễ hậu học văn” như khẩu hiệu trong giáo dục bởi nền giáo dục ta từ ban đầu vốn chịu ảnh hưởng Trung Hoa; thì cần đáp lại rằng: đúng là giáo dục ở Việt Nam xa xưa thuở ban đầu chịu ảnh hưởng giáo dục Trung Hoa, tiếp nhận cái học của Nho giáo, trong ngàn năm Bắc thuộc và suốt 9 thế kỷ các nền quân chủ độc lập. Nhưng từ cuối thế kỷ XIX và nhất là từ đầu thế XX, nền giáo dục ở Việt Nam đã chuyển sang tiếp nhận giáo dục của châu Âu, trực tiếp là của Pháp. Cho đến ngày nay, thử nhìn xem toàn bộ học vấn mà 12 lớp thuộc hệ nhà trường phổ thông của ta cung cấp cho học sinh là nguồn từ đâu? Rõ ràng có ít ra đến 99% các tri thức là từ nguồn Âu-Mỹ! Hãy xem từng môn vật lý, hóa học, toán, thực vật, động vật, … các tri thức là lấy từ đâu? Chắc chắn không lấy từ Khổng (Nho), Đạo hay Lão Trang. Chằng riêng gì ta, giáo dục phổ thông ở Hàn Quốc, Nhật Bản, ở chính Trung Hoa, Đài Loan, cũng đều như vậy. Vậy là về giáo dục thì toàn bộ các vùng châu Á trong đó có ta đều đã “thoát Á” rồi, có còn là kiểu trường học “chi hồ giã giả”, học tứ thư ngũ kinh, học viết văn bát cổ,… nữa đâu? Chẳng riêng gì châu Á, mà khắp hành tinh chúng ta, hệ thống các tri thức dạy cho các trường phổ thông, đều có nguồn Âu-Mỹ. Vậy thì nhà trường hiện tại đâu có còn dính líu gì nhiều với Nho giáo mà toan quay lại dùng các phương châm, khẩu hiệu rút từ nó?

Cốt lõi mệnh đề “tiên học lễ hậu học văn” là nhấn mạnh việc trau dồi tư cách đạo đức bên cạnh việc học lấy tri thức và kỹ năng. Đây là một phương châm không riêng gì của giáo dục ở phương Đông. Nhưng cách diễn đạt lấy chữ “lễ” đại diện cho toàn bộ phương diện đạo đức thì rõ ràng là một quy nạp quá lệch, tỏ ra cũ kỹ, lại rất dễ phát sinh hiểu lầm và bị lạm dụng; toàn bộ phương diện tri thức và kỹ năng mà người ta cần tiếp nhận trong sự học, đem gói vào chữ “văn” thì quả là sơ giản hóa đến mức khó chấp nhận.

Trong cuộc sống thường ngày, ngoài ý nghĩa lễ độ thông thường, “lễ” thường ám ảnh người ta ở một vài hàm nghĩa thông tục. Đối với phía người học, “lễ” dễ gợi tới sự khuất phục, – đòi hỏi học trò phải vâng phục, – điều mà càng học trò lớp trên càng khó có thể sẵn sàng thể hiện, do tư cách “người lớn” đang đậm dần lên ở các cô gái, chàng trai, họ không thể “phục” nếu người thầy không thật giỏi và không thật có tư cách. Đối với phụ huynh, “lễ” nổi bật nhất ở ý nghĩa cống nạp, – nó có cái gì đó nặng nề hơn so với sự trả công thông thường.

Tôi biết là có bạn sẽ yêu cầu phải nêu những hàm nghĩa của “lễ” từ gốc, từ các kinh điển Nho giáo. Song đấy là lĩnh vực của giới nghiên cứu học thuật; người ngoài đời thường không đủ hiểu biết để tiếp cận như thế; họ chỉ hiểu và đụng chạm với “lễ” ở ý nghĩa thông tục mà thôi.

Cho nên, việc sử dụng lại khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” từ hơn chục năm nay, theo tôi, chỉ nên được xem là giải pháp tình thế. Đã đến lúc nên chấm dứt tình thế tạm thời này. Nếu cần khẩu hiệu, hãy gắng tìm từ những nguồn thuần Việt”; và nếu không tìm được từ nguồn “thuần Việt”, thì nên tham khảo những nguồn có quy mô thế giới, chẳng hạn từ nguồn của tổ chức UNESCO.

Trong bối cảnh thế giới hiện tại, ta cũng nên lưu ý đến những hiện tượng như các viện mang tên Khổng Tử được Trung Quốc lập ra ở các nước với tính cách những cơ quan truyền bá văn hóa Trung Quốc ở nước ngoài. Cái tên của Khổng Tử và có lẽ cả học thuyết của ngài nữa, như vậy, đang được đóng dấu đậm bản quyền quốc gia Trung Hoa. Ta nên tế nhị với chuyện này. Ta nên tự chứng tỏ rằng: từ thời hiện đại, người Việt Nam chúng ta đã đứng ngoài biên giới của nền văn hóa Trung Hoa rồi, không còn đứng trong đó nữa, như ở thời trung đại. Khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” – vốn có xuất xứ từ Khổng Tử – càng nên được chúng ta sớm chấm dứt sử dụng trong hiện tại, để từ nay chỉ nên được ghi nhận như một trong những thứ ta đã từng vay mượn thời quá khứ xa xưa.

Chú thích
[1] Trần Đình Hượu (1995): Đến hiện đại từ truyền thống, Hà Nội: Nxb. Văn hóa, in lần 2 có bổ sung, 1996, tr. 7 – 9; Trần Đình Hượu (2001): Các bài giảng về tư tưởng phương Đông /Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn/ Hà Nội: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2001, tr. 171-172.

20.7.2012
LNA
( viet-studies )

BẾN SƯƠNG MÙ - HẠC THÀNH HOA

Bến sương mù
Chỉ có sương và sương thế thôi
Bến xa như lẫn với mây trời
Phà đưa ta trở về bên ấy
Một bóng trăng chìm giữa nước trôi.

Đợi chờ
Có chiếc thuyền nằm im trong tủ kiếng
Buồm giương cao chờ đợi buổi ra khơi
Giấc mơ đó xa vời như cổ tích
Nên đêm ngày thương nhớ biển không nguôi.

Thơ - Mong manh


Mong Manh

Bầu trời xanh ,
Trái tim anh trong trắng .
Anh đi tìm em,
tìm người con gái vẹn toàn.
Kỷ niệm cũ ,
Đóng bụi mờ xa ngái .
Anh đi tìm hoài
đến bao giờ biết mỏi ?
...
Mong manh cánh phượng rụng rơi ,
Đỏ ối sân trường thưở ấy ...
Mong manh tháng ngày qua vội .
Chẳng còn gì ngoài nổi nhớ về nhau .

Mùa hạ cũ , dòng trôi kỷ niệm .
Tiếng ve sầu nức nở khóc phượng phai .
Tình mong manh ! tình ơi xin lắng đọng .
Giữa dòng đời ...buồn ngơ ngẩn - vai anh !

mưa phố núi - 23-7-2012




Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

BÀ LÃO BÁN RAU...



Câu chuyện về bà lão bán rau đang lan truyền trên cộng đồng mạng
“- Ăn rau không chú ơi?

Một giọng khàn khàn, run run làm gã giật mình. Trước mắt gã, một bà cụ già yếu, lưng còng cố ngước lên nhìn gã, bên cạnh là mẹt rau chỉ có vài mớ rau muống xấu mà có lẽ có cho cũng không ai thèm lấy.

- Ăn hộ tôi mớ rau...!

Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản. Bà cụ nhìn gã ánh mắt gần như van lơn. Gã cụp mắt, rồi liếc xuống nhìn lại bộ đồ công sở đang khoác trên người, vừa mới buổi sáng sớm. Bần thần một lát rồi gã chợt quay đi, đáp nhanh: Dạ cháu không bà ạ! Gã nhấn ga phóng nhanh như kẻ chạy trốn. Gã chợt cảm thấy có lỗi, nhưng rồi cái cảm giác ấy gã quên rất nhanh. "Mình thương người thì ai thương mình" cái suy nghĩ ích kỷ ấy lại nhen lên trong đầu gã.

- Ăn hộ tôi mớ rau cô ơi! Tiếng bà cụ yếu ớt.

- Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn!

Tiếng chan chát của một cô gái đáp lại lời bà cụ.

Gã ngoái lại, một cô gái cũng tầm tuổi gã. Cau mày đợi cô gái đi khuất, gã đi đến nói với bà:

- Rau này bà bán bao nhiêu?

- Hai nghìn một mớ. Bà cụ mừng rỡ.

Gã rút tờ mười nghìn đưa cho bà cụ.

- Sao chú mua nhiều thế?

- Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy!

Rồi gã cũng nhấn ga lao vút đi như sợ sệt ai nhìn thấy hành động vừa rồi của gã. Nhưng lần này có khác, gã cảm thấy vui vui.

Chiều hôm ấy mưa to, mưa xối xả. Gã đứng trong phòng làm việc ngắm nhìn những hạt mưa lăn qua ô cửa kính và theo đuổi nhưng suy nghĩ mông lung. Gã thích ngắm mưa, gã thích ngắm những tia chớp xé ngang trời, gã thích thả trí tưởng tượng theo những hình thù kỳ quái ấy. Chợt gã nhìn xuống hàng cây đang oằn mình trong gió, gã nghĩ đến những phận người, gã nghĩ đến bà cụ...

- Nghỉ thế đủ rồi đấy!

Giọng người trưởng phòng làm gián đoạn dòng suy tưởng của gã. Gã ngồi xuống, dán mắt vào màn hình máy tính, gã bắt đầu di chuột và quên hẳn bà cụ.

Mấy tuần liền gã không thấy bà cụ, gã cũng không để ý lắm. Gã đang bận với những bản thiết kế chưa hoàn thiện, gã đang cuống cuồng lo công trình của gã chậm tiến độ. Gã quên hẳn bà cụ.

Chiều chủ nhật gã xách xe máy chạy loanh quanh, gã vẫn thường làm như vậy và có lẽ gã cũng thích thế.

Gã ghé qua quán trà đá ven đường, nơi có mấy bà rỗi việc đang buôn chuyện.

Chưa kịp châm điếu thuốc, gã chợt giật mình bởi giọng oang oang của một bà béo:

- Bà bán rau chết rồi.

- Bà cụ hay đi qua đây hả chị? Chị bán nước khẽ hỏi.

- Tội nghiệp bà cụ! một giọng người đàn bà khác.

- Cách đây mấy tuần bà cụ giở chứng cứ ngồi dưới mưa bên mấy mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng nhất quyết không bán, rồi nghe đâu bà cụ bị cảm lạnh.

Nghe đến đây mắt gã chợt nhòa đi, điếu thuốc chợt rơi khỏi môi.

Bên tai gã vẫn ù ù giọng người đàn bà béo kia...

Gã không ngờ.........!”

(Nguồn: ST)

Thơ- Nợ Xưa


Nợ xưa

Mấy mươi năm-một NgàyXưa,
hoa thơ-bướm mộng-nắng trưa-mưa chiều
Mấy mươi năm-một Trời Yêu
Nghìn năm sau nữa cánh diều còn bay
Đi về - một cõi tỉnh say
Nợ tình chưa trả còn vay thêm hoài
"tóc mai sợi ngắn sợi dài..."
Sao quên đặng ? lang thang hoài ngàn năm.

21-7-2012
BNN - Sydney



Lang Thang

Ừ thì trả nợ nhau nè ,
Lang Thang người cứ mãi mê đi tìm .
Con đò xa bến nằm im ...
Dòng sông trăn trở - nhận chìm nổi đau .
Áo xưa giờ bạc phết màu
Thời gian có đủ , đong sâu ân tình ?
Lặng lờ giữa buổi bình mình ,
Sông Mơ ngập nắng chở tình về đâu ?
Biết người trải cuộc bể dâu ,
Biết lòng quân tử mai sau vẹn tình
Kiếp này chẳng phải của mình ,
Kiếp sau anh nhé , đinh ninh hẹn thề .

23-7-2012
Cali -MPN